BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 31/01/2019

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ

Thị trường chứng khoán Mỹ có một tăng mạnh với chỉ số DowJones tăng 434.9 điểm (+1.77%) lên 25,014.86 điểm, chỉ số S&P 500 tăng 41.05 điểm (1.55%) lên 2,681.05 điểm, chỉ số Nasdaq tăng 154.79 điểm (2.2%) lên 7,183.08 điểm nhờ kết quả kinh doanh khả quan của các doanh nghiệp cùng việc FED không vội tăng lãi suất, ngân hàng trung ương cam kết sẽ kiên nhẫn. Trên bảng cân đối kế toán, Fed cho biết họ “sẵn sàng điều chỉnh bất kỳ chi tiết nào để hoàn thành bình thường hóa bảng cân đối trong bối cảnh phát triển kinh tế và tài chính”. Ngoài ra nhà đầu tư đang kỳ vọng vòng đàm phán thương mại cấp cao Hoa Kỳ – Trung Quốc có thể giải quyết được sự khác biệt của họ về thương mại và đạt được sự đồng thuận trước ngày 1 tháng 3 khi thỏa thuận 90 ngày hết hạn. Thị trường các nước châu Âu như Đức có biến động trái chiều khi giảm 37.17 điểm về 11,181.66 điểm. Trong khi đó, ở Châu Á chỉ số NIKKEI 225 của Nhật giảm 108.1 điểm còn 20,556.54 điểm, chỉ số Shanghai giảm nhẹ 18.68 điểm về mốc 2,575.58 điểm.

 

TIN HÀNG HÓA & GIÁ DẦU

Giá dầu tăng nhẹ hôm nay với giá dầu WTI trên hợp đồng tương lai ở vào 54.45 USD/thùng và giá dầu Brent ở vào 61.67 USD/thùng vào cuối thời gian giao dịch trên thị trường Châu Á. Giá dầu có vẻ đang bị kiềm chế ở mặt bằng hiện tại dù có những dấu hiệu cho thấy tình trạng cung/cầu thắt chặt hơn. API công bố đêm trước rằng tồn kho dầu thô của Mỹ tăng thêm 2,1 triệu thùng trong tuần kết thúc vào ngày 25/1. Kết quả này thấp hơn một chút so với dự báo. Trong đó, theo API tồn kho xăng cũng tăng thêm 2,2 triệu thùng. Lệnh trừng phạt của Mỹ đối với công ty dầu mỏ quốc gia Venezuela PDVSA đã khiến giá dầu rung lắc đêm qua mặc dù NĐT trên thị trường dầu mỏ vẫn chưa biết chắc chắn ảnh hưởng của động thái này. Theo đó, công ty con của PDVSA tại Mỹ là Citgo có thể tiếp tục hoạt động nhưng lợi nhuận phải chuyển vào tài khoản do chính quyền đối lập tại Venezuela quản lý. Lệnh trừng phạt này được cho là nhằm siết nguồn cung ngoại tệ đối với Caracas, gia tăng sức ép lên Tổng thống Nicolas Maduro. Lệnh trừng phạt này cũng ngăn cản việc PDVSA xuất khẩu dầu thông qua trung gian thứ 3 trước khi sang Mỹ, Hiện Venezuela xuất khẩu khoảng 500.000 thùng dầu/ngày sang Mỹ để chế biến. Bên cạnh sự nghiêm khắc trong thực thi các lệnh cấm vận đối với Iran sau khi hết thời hạn miễn chấp hành đối với một số nước, thì động thái trên nhiều khả năng sẽ làm thắt chặt cán cân cung cầu trong Q1. Trên thực tế, trước sự giảm tốc của nền kinh tế thế giới và sự chưa rõ ràng ở đàm phán thương mại Trung – Mỹ, các NĐT trên thị trường dầu mỏ hiện không muốn đẩy giá dầu tăng quá mạnh.

 

TIN VĨ MÔ THẾ GIỚI

Bất chấp những phát biểu lạc quan của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Steve Mnuchin về vòng đàm phán thương mại tiếp theo giữa Trung Quốc và Mỹ bắt đầu hôm nay, thì thị trường vẫn tỏ ra thận trọng trước những khoảng cách sâu sắc giữ 2 nước ở những vấn đề cải cách mang tính cơ cấu ở lĩnh vực phát triển công nghệ và sở hữu trí tuệ. Trên thực tế, tìm được cách để thu hẹp thâm hụt thương mại của Mỹ với Trung Quốc là dễ dàng hơn nhiều nhưng nguyên nhân tranh chấp không nằm ở đó. Và tiến triển đạt được trong đàm phán thương mại trong tuần này có vai trò quan trọng vì thời hạn dành cho đàm phán là khá chặt. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản công bố số liệu hôm nay cho thấy doanh số bán lẻ trong tháng 12 tăng mạnh hơn kỳ vọng, tăng 1,3% so với cùng kỳ (thị trường kỳ vọng tăng 0,8% so với cùng kỳ trong khi tháng 11 tăng 1,4% so với cùng kỳ). Sau khi điều chỉnh theo yếu tố mùa vụ, doanh số bán lẻ tăng 0,9% so với cùng kỳ trong tháng 12 (tháng 11 sau khi điều chỉnh giảm 1,1% so với cùng kỳ).Doanh số bán lẻ tăng nhờ chi tiêu cho quần áo tăng 4,1% so với cùng kỳ và chi tiêu cho đồ gia dụng tăng 4,4% so với cùng kỳ. Doanh số bán lẻ chiếm khoảng 60% GDP nên đây là một thước đo chủ chốt cho sức khỏe của nền kinh tế. Lương tăng mạnh hơn cũng có đóng góp ở đây. Thông tin tích cực này được công bố đúng lúc có những dấu hiệu giảm tốc ở những chỉ báo kinh tế chủ chốt khác như xuất khẩu và đầu tư cơ bản. Cho dù vậy, nếu tiêu dùng là động lực tích cực duy nhất của GDP trong năm nay thì ý định nâng thuế tiêu dùng của chính phủ từ 8% lên 10% sẽ khó thực hiện. Vì rõ ràng sẽ có ảnh hưởng đến sức cầu tiêu dùng. Tại Mỹ, Conference Board vào hôm thứ 3 công bố chỉ số niềm tin tiêu dùng giảm 6,4 điểm xuống còn 120,2 điểm vào tháng 1, là mức thấp nhất kể từ tháng 7/2017. Thị trường chứng khoán giảm trong tháng 12 cộng với động thái đóng cửa của chính phủ trong hầu hết tháng 1 đã không có tác động tích cực. Cuộc khảo sát niềm tin tiêu dùng được thực hiện vào ngày 17 hàng tháng, là thời điểm trước khi tình trạnh đóng cửa chính phủ được dỡ bỏ. Bên cạnh đó, trước xu hướng khởi sắc của thị trường chứng khoán, thì số liệu cho tháng 2 có lẽ sẽ có sự cải thiện. Cho dù vậy, sự suy giảm của niềm tin tiêu dùng là một dấu hiệu đáng quan ngại nữa cho thấy nền kinh tế Mỹ đang nhanh chóng quay trở lại tốc độ tăng trưởng bình thường dài hạn và có lẽ thậm chí còn giảm xuống dưới tốc độ này trong năm 2019.

TIN VĨ MÔ TRONG NƯỚC

Tại buổi gặp gỡ ngày 30/1, trước thềm năm mới Kỷ Hợi, đã nêu không ít trăn trở cho kinh tế Việt Nam. Nhìn lại 30 năm đổi mới, Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng, đất nước đã “tự làm chủ, chủ động hoạch định tương lai và quyết định con đường đi”, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với quy mô, tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh. Tốc độ tăng GDP bình quân tăng 6,8% một năm trong khoảng hai thập kỷ qua, quy mô kinh tế theo đó cũng tăng 39 lần, lên mức 245 tỷ USD vào năm 2018. GDP bình quân đầu người tăng 27,4 lần, đạt gần 2.590 USD vào năm ngoái. Nhưng ông nói, “khi Việt Nam chạy thì các nước chạy với tốc độ nhanh hơn”, vì thế so với khu vực những con số này “chưa thấm vào đâu”. Đơn cử, GDP bình quân đầu người của Indonesia gấp 4,5 lần Việt Nam, Thái Lan gấp đôi, Malaysia gấp 1,4 lần; Hàn Quốc gấp 6,8 lần… “Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước thu nhập trung bình thấp, bình quân đầu người chỉ ngang mức của Malaysia cách đây 20 năm, Thái Lan 15 năm hay Indonesia 10 năm trước”, Bộ trưởng Dũng nêu.So sánh điều này, ông Dũng cho rằng, đất nước ngày càng phát triển, tiến xa hơn nhiều so với quá khứ, nhưng vẫn có khoảng cách lớn nếu so với Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia… cách đây 40 năm đã có trình độ phát triển gần giống Việt Nam. “Việt Nam sau 30 năm đổi mới với nhiều nỗ lực vẫn ở mức “thường thường bậc trung”, ông nhận xét. Những hạn chế của nền kinh tế được vị trưởng ngành kế hoạch chỉ ra, như năng suất lao động, hiệu quả kinh tế thấp, sức cạnh tranh chưa cao, và nhất là nguy cơ tụt hậu, bẫy thu nhập trung bình hiện hữu. Loạt biến động tình hình địa chính trị bên ngoài đến từ cuộc xung đột thương mại Mỹ – Trung, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, hay độ mở nền kinh tế quá lớn… là những thách thức với Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh này, động lực để đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình, theo Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư, vẫn là cải cách thể chế, chính sách để bứt phá nhanh, bền vững hơn. Theo ông Dũng, với chủ trương phát triển đất nước thịnh vượng, bao trùm và “không để ai bị bỏ lại phía sau”, các chính sách đều hướng tới mọi đối tượng trong xã hội, gồm những người yếu thế để xác lập vị thế bình đẳng, công bằng. Với ba trụ cột trong phát triển bền vững gồm kinh tế, xã hội và môi trường, tất cả đều phải lấy con người làm trung tâm xây dựng phát triển, người dân làm động lực, mục tiêu và “không ai bị bỏ lại phía sau”.Ông đề nghị cần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế cao, liên tục kéo dài; trong đó khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực. Cùng đó, phát triển kinh tế tư nhân vẫn sẽ là một trong những trụ cột của nền kinh tế giai đoạn tới. “Cơ hội và thách thức luôn song hành, nên biết tận dụng thì thành công. Ví dụ cuộc cách mạng 4.0 nếu không nhạy bén và kịp thời nắm lấy thì khó. Nếu không kịp chuyến tàu công nghệ 4.0 thì khoảng cách với các nước sẽ ngày càng giãn. Họ đi rất nhanh và sẽ không chờ mình. Đây là cơ hội để Việt Nam bắt kịp và thu hẹp khoảng cách phát triển”, ông Dũng nhìn nhận.Ông Dũng cũng cho rằng, hiện là thời điểm để gửi thông điệp mới về thu hút đầu tư nước ngoài, rằng Việt Nam sẽ chọn mô hình tăng trưởng xanh, sạch để phát triển chứ không thu hút FDI bằng mọi giá như vừa qua.

TIN NGÀNH

Ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của thế giới và Việt Nam. Những thập kỷ qua, nhân loại chứng kiến sự thay đổi ngoạn mục của ngành hàng này cả về quy mô, phương thức sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, những thập niên tới, ngành chăn nuôi của thế giới sẽ phát triển theo xu thế nào khi mà các nguồn lực, tài nguyên đất đai ngày càng cạn kiệt, biến đổi khí hậu đang diễn ra gay gắt trên toàn cầu? Nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi ngày càng tăng. Đô thị hóa có tác động đáng kể đến các mô hình tiêu thụ lương thực nói chung và nhu cầu đối với các sản phẩm chăn nuôi nói riêng. Đô thị hóa thường kéo theo sự giảm diện tích sản xuất và dân số làm nông nghiệp, nhưng sẽ làm gia tăng tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi đông lạnh và chế biến. Một nguyên nhân dẫn đến tăng nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi là tăng trưởng thu nhập. Từ năm 2020 đến năm 2050, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trên toàn cầu hàng năm ước tính 2,5%. Khi thu nhập tăng, thì chi tiêu cho các sản phẩm chăn nuôi cũng sẽ tăng. Tăng trưởng kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tiếp tục trong tương lai, dự báo ở mức từ 1,0 -3,5%/năm. Tăng trưởng tiêu thụ thịt, sữa ở các nước công nghiệp được dự đoán sẽ chậm hơn so với các nền kinh tế đang phát triển. Nhu cầu lương thực cho sản phẩm chăn nuôi sẽ tăng gần gấp đôi ở vùng cận Sahara châu Phi và Nam Á, từ 200 kcal/người/ngày vào năm 2000 đến khoảng 400 kcal/người/ngày vào năm 2050.Mặt khác, ở hầu hết các nước OECD đã có lượng hấp thụ calo cao của sản phẩm động vật (1.000 kcal/người/ngày trở lên), mức tiêu thụ sẽ không thay đổi, trong khi ở Nam Mỹ và các nước thuộc Liên Xô cũ sẽ tăng lên. Dự báo mức tiêu thụ thịt và sữa bình quân/người/năm ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 89 và 209kg và đến năm 2050 tương ứng là 94 và 216kg. Ở các nước đang phát triển đến năm 2030 tương ứng là 38 và 67kg, đến năm 2050 là 44 và 78kg. Tổng mức tiêu thụ thịt, sữa ở các nước phát triển đến năm 2030 tương ứng là 121 triệu tấn và 284 triệu tấn, đến năm 2050 là 126 và 295 triệu tấn. Còn ở các nước đang phát triển, tổng mức tiêu thụ thịt và sữa đến năm 2030 tương ứng là 252 và 452 triệu tấn; đến năm 2050 là 326 và 585 triệu tấn. Ở Việt Nam sự phát triển của ngành chăn nuôi cùng với việc thu nhập của người lao động tăng, dẫn đến thay đổi lớn trong cách chi tiêu. Theo một tính toán của Ngân hàng Thế giới, tổng chi tuyệt đối cho gạo giảm 4% trong khi chi cho thịt và sữa tăng gấp đôi. Tại khu vực đô thị, chi tiêu cho gạo giảm từ 25% (2002) xuống còn khoảng 17,2%, trong khi chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 32,7% lên 37,8% trong cùng kỳ. Tại khu vực nông thôn, chi tiêu cho gạo giảm từ 38,9% xuống 25,4% và chi cho sản phẩm chăn nuôi tăng từ 23,4% lên 34%.Xu hướng sản xuất. Phát triển hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới chắc chắn sẽ liên quan đến sự cân bằng giữa an ninh lương thực, nghèo đói, bình đẳng, bền vững môi trường và phát triển kinh tế. Trong lịch sử, sự phát triển chăn nuôi được đặc trưng bởi hệ thống sản xuất cũng như sự khác biệt ở các khu vực trên thế giới. Hệ thống sản xuất chăn nuôi công nghiệp ở các nước phát triển đã góp phần gia tăng sản phẩm thịt gia cầm và thịt lợn trên thế giới, và các hệ thống sản xuất này đang được thiết lập ở các nước đang phát triển, đặc biệt là ở châu Á, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Ước tính ít nhất 75% tổng tăng trưởng sản xuất đến năm 2030 sẽ nằm trong các hệ thống chăn nuôi công nghiệp, nhưng sẽ có ít sự tăng trưởng của hệ thống này ở các nước châu Phi. Trong khi sự tăng trưởng sản lượng cây trồng chủ yếu do tăng năng suất chứ không phải từ việc mở rộng diện tích, thì việc gia tăng sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng lên nhờ vào việc mở rộng số lượng vật nuôi ở các nước đang phát triển, đặc biệt là động vật nhai lại. Giá các loại cây lương thực thực phẩm có khả năng tăng với tốc độ nhanh hơn so với giá của các sản phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, việc sản xuất thức ăn thay thế cho động vật nhai lại trong các hệ thống trồng trọt và chăn nuôi hỗn hợp có thể bị hạn chế bởi cả đất và nước, đặc biệt là các hệ thống tưới tiêu.Dự báo sự gia tăng đáng kể nhu cầu lương thực sẽ có tác động sâu sắc đối với hệ thống chăn nuôi trong những thập kỷ tới. Ở các nước phát triển, tăng trưởng năng suất sẽ góp phần tăng tỷ trọng tăng trưởng sản xuất chăn nuôi khi việc mở rộng quy mô sẽ chậm lại. Giá thịt, sữa và ngũ cốc có khả năng tăng trong những thập kỷ tới, đảo ngược đáng kể xu hướng trong quá khứ. Sự tăng trưởng nhanh chóng về nhu cầu thịt và sữa có thể làm tăng giá ngô và các loại ngũ cốc thô và các loại nguyên liệu thức ăn khác. Nhu cầu năng lượng sinh học được dự đoán sẽ cạnh tranh với các nguồn tài nguyên đất và nước và điều này sẽ làm trầm trọng thêm sự cạnh tranh về đất đai từ việc tăng nhu cầu về nguồn thức ăn. Sự khan hiếm nước và đất sẽ đòi hỏi tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên đáng kể trong sản xuất chăn nuôi để tránh những tác động bất lợi đến an ninh lương thực và mục tiêu an sinh của con người. Giá cao hơn có thể mang lại lợi ích cho các nhà sản xuất nông nghiệp, nhưng có thể giảm tiếp cận với thực phẩm bởi một số lượng lớn người tiêu dùng nghèo, bao gồm cả những nông dân không sản xuất thặng dư ròng cho thị trường. Kết quả là, tiến trình giảm suy dinh dưỡng được dự báo sẽ chậm lại.Dự báo trong các thập kỷ tới, chăn nuôi của thế giới sẽ phát triển theo hướng nâng cao chất lượng; sản xuất thực phẩm hữu cơ; thân thiện với môi trường và coi trọng phúc lợi động vật. Nhu cầu tiêu dùng các loại thực phẩm hữu cơ tiếp tục tăng cao nên doanh số bán các loại mặt hàng này trên thị trường toàn cầu tăng bình quân 12-13%/năm trong những năm qua và xu hướng tiêu dùng này sẽ tiếp tục tăng trong tương lai. Thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ lớn nhất là Mỹ với 24,4 tỷ USD, trong khi nước tiêu thụ loại thực phẩm này theo đầu người hàng năm lớn nhất là Thụy Sĩ (204 USD). Hiện đã có một số công ty lớn trên thế giới liên kết với người chăn nuôi để tạo dựng thị trường thực phẩm hữu cơ ổn định. Do áp lực từ các tổ chức xã hội, nhiều tập đoàn chăn nuôi đa quốc gia, công ty phân phối và chế biến thực phẩm đều đang thực hiện cải thiện phúc lợi động vật bằng việc thay đổi dần các quy trình sản xuất. Phần lớn người tiêu dùng ở các nước phát triển đều quan tâm đến phúc lợi động vật và họ sẵn sàng trả giá cao hơn cho những động vật có xuất xứ từ trang trại nuôi dưỡng được đảm bảo tính nhân đạo. Nhiều quốc gia thành viên tham khảo và sử dụng các tiêu chuẩn của OIE được trong quá trình theo đuổi phúc lợi động vật trong sản xuất và thương mại.Ngành chăn nuôi toàn cầu được đánh giá vừa là tác nhân gây ô nhiễm môi trường vừa là đối tượngchịu hậu quả của ô nhiễm môi trường do chính ngành này gây ra. Theo các nhà khoa học, hành tinh chúng ta đang sống không khác gì một trang trại khổng lồ vì 40% diện tích bề mặt trái đất được sử dụng để sản xuất thực phẩm cho con người. Ước tính ngành chăn nuôi phát thải khoảng 15% tổng lượng phát thải khí nhà kính của con người, gần như tương đương với lượng khí thải trực tiếp từ giao thông vận tải. Tại các nước đang phát triển ngành này đóng góp tỷ lệ hiệu ứng nhà kính cao nhất, trong đó 75% từ hoạt động chăn nuôi động vật nhai lại và 56% từ chăn nuôi gia cầm và heo. Do đó, thịt heo và gà luôn được đánh giá là “thân thiện môi trường” nhất khi tỷ lệ hiệu ứng nhà kính là 10%. Chăn nuôi Việt Nam hiện đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, sau khi nước ta gia nhập Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Những cơ hội và thách thức sẽ xuất hiện cả trên thị trường nội địa và quốc tế. Nhưng muốn cạnh tranh hiệu quả thì ngành chăn nuôi nước ta phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về phương thức tổ chức sản xuất, quy mô, công nghệ và thị trường tiêu thụ. Trong đó tập trung giải quyết các điểm yếu về năng suất, chất lượng sản phẩm, VSATTP, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và mở rộng thị trường xuất khẩu.Ngành sản xuất nông nghiệp đang phục vụ ngày càng nhiều cho chế độ ăn toàn cầu hóa. Việc bán lẻ qua các siêu thị tăng 20% mỗi năm ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, và điều này sẽ tiếp tục trong vài thập kỷ tới khi người tiêu dùng đô thị cần nhiều thực phẩm chế biến hơn, do đó gia tăng vai trò của kinh doanh nông nghiệp. Rõ ràng, xu hướng sử dụng thực phẩm giàu protein ngày càng cao, và như vậy, thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển là điều dễ hiểu.

 

TIN DOANH NGHIỆP

Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN – VCB
Cho vay khách hàng tăng 16,41% so với năm trước đạt 632,6 nghìn tỷ đồng; chủ yếu rơi vào 9 tháng đầu năm (tăng 15,55% so với đầu năm). Tuy nhiên nếu tính cả các khoản đầu tư trái phiếu doanh nghiệp từ tổng tăng trưởng tín dụng chỉ là 14,8%; thấp hơn mức chỉ tiêu 15% do NHNN giao. Về kỳ hạn, cho vay nghiêng về kỳ hạn dài: • Cho vay kỳ hạn ngắn tăng 13% so với năm trước đạt 342,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 54,2 % tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 55,8%). • Trong khi đó cho vay trung dài hạn tăng 20,7% đạt 289,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,8% tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm năm 2017 là 44,2%). Theo đối tượng khách hàng, cho vay khách hàng cá nhân vẫn là động lực tăng trưởng chính. Cụ thể: • Cho vay khách hàng cá nhân tăng 32,9% so với năm trước đạt 236,2 nghìn tỷ đồng, đóng góp 37,3% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 44,2%). • Cho vay doanh nghiệp tư nhân gồm DNNVV tăng 18,7% so với năm trước đạt 289,7 nghìn tỷ đồng, đóng góp 45,8% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 44,9%). • Cho vay khu vực FDI gần như giữ nguyên, chỉ tăng 0,5% so với năm trước đạt 38,6 nghìn tỷ đồng, đóng góp 6,1% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 7,1%). • Cho vay DNNN giảm 18,2% so với năm trước đạt 68,2 nghìn tỷ đồng, đóng góp 10,8% vào tổng dư nợ (tại thời điểm cuối năm 2017 là 15,3%).Tiền gửi khách hàng tăng 13,23% so với năm trước đạt 802,2 nghìn tỷ đồng. Tiền gửi theo kỳ hạn cụ thể như sau: • Tiền gửi không kỳ hạn tăng 14,1% so với năm trước đạt 243,1 nghìn tỷ đồng. • Tiền gửi có kỳ hạn tăng 12,9% so với năm ngoái đạt 559,1 nghìn tỷ đồng. Theo đó, tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn đã tăng từ 30,1% tại thời điểm cuối năm 2017 lên 30,3%. Tỷ lệ này của VCB cao thứ 2 trong số các ngân hàng nội. Tiền gửi theo loại tiền cụ thể như sau: • Tiền gửi bằng đồng VNĐ tăng 13,5% so với năm trước đạt 660,5 nghìn tỷ đồng, bằng 81,1% tổng vốn huy động. • Tiền gửi bằng đồng USD tăng 11,9% so với năm ngoái đạt 151,8 nghìn tỷ đồng, bằng 18,9% tổng vốn huy động. Với tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao và tỷ trọng tiền gửi USD cao nhất ngành, VCB tiếp tục là ngân hàng có chi phí huy động thấp nhất trong số các NHTM. Tỷ lệ LDR thuần tăng lên 78,9% từ 76,7% tại thời điểm cuối năm 2017. Tương tự hệ số LDR điều chỉnh (cộng thêm các khoản đầu tư trái phiếu do- anh nghiệp vào tử số; cộng thêm trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi vào mẫu số) cũng có xu hướng tăng, từ 76,8% tại thời điểm cuối năm 2017 lên 77,8% tại thời điểm cuối năm 2018. Trong số các NHTM có vốn nhà nước và các NHTMCP lớn, thì hệ số LDR của VCB luôn ở cận thấp VCB vẫn còn dư địa đẩy chỉ số này tăng để cải thiện tỷ lệ NIM nếu muốn. Tỷ lệ NIM tăng 0,26% lên 2,97% – chủ yếu nhờ chi phí huy động giảm 0,08% xuống còn 2,93% trong khi lợi suất gộp tăng 0,15% lên 5,84%.Về cơ cấu tài sản, có những thay đổi sau: • Tổng tài sản sinh lãi tăng 12,9% so với năm trước. Trong cơ cấu tài sản sinh lãi, cho vay khách hàng chiếm 61,2%; cho vay/gửi tiền liên ngân hàng chiếm 24,1%; đầu tư trái phiếu chiếm 14,7% (tương tự tại thời điểm cuối năm 2017). • Lợi suất cho vay khách hàng tăng 0,27% lên 6,84%; chủ yếu nhờ tỷ trọng các khoản cho vay khách hàng cá nhân tăng. Trong khi đó lợi suất cho vay liên ngân hàng tăng 0,47% lên 2,19%. Lợi suất gộp đầu tư trái phiếu giảm 0,59% xuống còn 4,81%. VCB có một danh mục trái phiếu lớn, tổng cộng là 151,9 nghìn tỷ đồng với 70,6% là trái phiếu chính phủ; 24,2% là trái phiếu các tổ chức tài chính và 5,2% là trái phiếu doanh nghiệp. Lợi suất của danh mục trái phiếu của VCB tương đối thấp so với các NHTM khác do tỷ trọng trái phiếu chính phủ cao. Về cơ cấu huy động, chuyên gia thấy có những thay đổi sau. • Tổng vốn huy động (chịu lãi) tăng 2,7% so với năm ngoái với cơ cấu vốn huy động có những thay đổi đáng kể: – Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước và NHNN giảm 47,1% so với năm trước xuống còn 90,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,2% tổng vốn huy động (cuối năm 2017 là 17,8%). Tiền gửi của Kho bạc Nhà nước và NHNN tại VCB tăng mạnh vào cuối năm 2017 chủ yếu là do VCB là ngân hàng thanh toán cho thương vụ bán cổ phần Sabeco, và trong năm 2018 tiền từ thương vụ này đã được rút dần ra, theo đó tỷ trọng của nguồn huy động này đã quay trở lại mức bình thường. – Trong khi đó vay liên ngân hàng tăng 14,3% so với năm trước, chiếm 7,7% tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 6,9%). – Giấy tờ có giá tăng 17,8% so với năm trước, nhưng chỉ chiếm 2,2% tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 1,9%). – Tiền gửi khách hàng tăng 13,2% so với năm trước, chiếm 88,6% tổng vốn huy động (tại thời điểm cuối năm 2017 là 73,4%). • Chi phí huy động tiền gửi khách hàng giảm 0,06% so với năm trước xuống còn 3,16%. Chi phí vay liên ngân hàng và vay khác giảm 0,31% xuống chỉ còn 0,5%. Chi phí huy động bình quân từ phát hành giấy tờ có giá giảm 0,3% xuống còn 7,57% nhờ môi trường lãi suất năm nay thuận lợi hơn năm ngoái. Theo đó, thu nhập lãi thuần tăng trưởng 29,5% đạt 28.409 tỷ đồng, chủ yếu nhờ tỷ lệ NIM được cải thiện và hệ số LDR tăng. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 45,7% lên 10.879 tỷ đồng, gồm: • Lãi thuần hoạt động dịch vụ đạt 3.401,3 tỷ đồng (tăng 34%). • Lãi thuần hoạt động kinh doanh ngoại hối đạt 2.266,4 tỷ đồng (tăng 11%). • Lãi thuần chứng khoán kinh doanh đạt 249,4 tỷ đồng (giảm 47,7%). Nhờ lợi suất trái phiếu giảm xuống mức thấp kỷ lục trong Q1, nhiều ngân hàng bao gồm cả VCB đã ghi nhận 487 tỷ đồng lợi nhuận từ danh mục trái phiếu trong 6 tháng đầu năm. Tuy nhiên lợi suất đã bắt đầu tăng trở lại và VCB đã hạch toán 237,6 tỷ đồng lỗ trong 6 tháng cuối năm. • Lợi nhuận khác đạt 3.234,4 tỷ đồng (tăng 54,5%). Phần lớn là thu hồi nợ xấu đã xử lý. • Thu nhập từ góp vốn mua cổ phần đạt 1.727,5 tỷ đồng (tăng 420,7%), trong đó 1.557,5 tỷ đồng là lợi nhuận từ thoái vốn các khoản đầu tư. Cụ thể: – 248,4 tỷ đồng từ thoái vốn tại HVN và CFC đã ghi nhận trong Q1. – 182,6 tỷ đồng từ thoái vốn tại OCB được ghi nhận trong Q2 và Q3. – 1.126,5 tỷ đồng từ bán 2,47% cổ phần MBB và 3,69% cổ phần EIB trong Q4. Tại thời điểm cuối năm 2018, VCB vẫn giữ 4,5% cổ phần MBB và 4,5% cổ phần EIB. Do đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 39.288,3 tỷ đồng (tăng trưởng 45,7%). Trong đó, 72,3% là từ thu nhập lãi thuần và 27,7% từ thu nhập ngoài lãi.Chi phí hoạt động tăng 14,7% so với năm 2018 lên 13.609,8 tỷ đồng. Ngân hàng kiểm soát khá tốt hầu hết các chi phí, với chi phí liên quan đến nhân viên là 7.670,6 tỷ đồng (tăng 13,9% so với năm 2017) với số lượng nhận viên tăng 6%. Chi phí này chiếm 56,4% tổng chi phí hoạt động. Các chi phí quản lý khác tăng 17,1% so với năm 2018 lên 2.818,7 tỷ đồng (chiếm 20,7% tổng chi phí hoạt động). Hệ số CIR giảm xuống 34,6% từ 40,4% trong năm 2017, nhờ thu nhập tăng mạnh và chi phí hoạt động tăng khiêm tốn hơn nhiều. Tuy nhiên, tương tự như trong những năm trước, Ngân hàng sẽ trích quỹ khen thưởng và phúc lợi khoảng 15-16% LNST, và khoản này nên được bao gồm trong tổng chi phí nhân viên. Do đó, hệ số CIR điều chỉnh của VCB trong năm 2018 là khoảng 40,2% và vẫn ở mức thấp so với các ngân hàng khác. Do đó lợi nhuận trước trích lập dự phòng là 25.678,5 tỷ đồng (tăng trưởng 46,4%). Chi phí dự phòng tăng 19% so với năm 2017 lên 7.378,6 tỷ đồng, gồm 581,6 tỷ đồng (giảm 21,6% so với năm 2017) dự phòng chung và 5.661,6 tỷ đồng (tăng 3,0%) dự phòng cụ thể, 1.00 tỷ đồng dự phòng cho vay liên ngân hàng (năm ngoái không phát sinh chi phí này) và 135,8 tỷ đồng (tăng 1.366% so với năm 2017) dự phòng trái phiếu doanh nghiệp. Tỷ lệ nợ xấu là 0,98% so với mức 1,14% vào cuối năm 2017, sau khi xử lý 4.083,7 tỷ đồng (tương đương 0,65% dư nợ).Ngân hàng cuối cùng đã thực hiện tăng vốn thông qua phát hành 111,1 triệu cổ phiếu mới cho GIC và Mizuho – tương đương 3,09% tổng số cổ phiếu đang lưu hành. VCB đã bán tổng cộng 111.108.873 cổ phiếu, trong đó GIC mua vào 94.442.442 cổ phiếu và Mizuho mua phần còn lại 16.666.431 cổ phiếu. Tuy nhiên, số lượng cổ phiếu đã bán chỉ tương đương 30,88% tổng số cổ phiếu VCB chào bán ban đầu. Sau tăng vốn, tỷ lệ sở hữu nhà nước tại VCB giảm xuống 74,8%. Tỷ lệ sở hữu của Mizuho vẫn là 15% và GIC hiện nắm 2,55% cổ phần. Giá phát hành cổ phiếu là 55.510đ/cp, cao hơn một chút so với thị giá cổ phiếu trước thông báo phát hành, là khoảng 53.000-54.500đ. Tính theo giá phát hành, cổ phiếu VCB được định giá với P/B 2018 là 3,11 lần. Tổng số vốn thu được từ đợt phát hành là 6.106,5 tỷ đồng (tương đương 265 triệu USD). Cổ phiếu phát hành mới sẽ bị hạn chế chuyển nhượng 1 năm và đã được niêm yết vào ngày 28/1. Tổng số cổ phiếu đang lưu hành và niêm yết hiện tại là khoảng 3.708,9 triệu cổ phiếu. Vào tháng 11 và tháng 12/2018, VCB cũng phát hành tổng cộng 1.060 tỷ đồng giá trị trái phiếu thứ cấp. VCB là một trong hai ngân hàng đầu tiên được NHNN chấp thuận áp dụng Basel 2 từ cuối tháng 11/2018. VCB cho biết hệ số CAR the Basel 2 là trên 9% vào cuối năm 2018. Và chuyên gia ước tính hệ số CAR hiện tại của VCB là khoảng 10,1% sau phát hành tăng vốn.

Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang – DQC
CTCP Bóng đèn Điện Quang (DQC) vừa công bố KQLN Quý 4/2018. Theo đó, LNST sau lợi ích CĐTS giảm mạnh 32% so với cùng kỳ 2017. Nguyên nhân là trong Quý 4/2018, công ty không có khoản lãi bất thường nào như cùng kỳ 2017. Dù vậy, LNST sau lợi ích CĐTS cả năm 2018 vẫn tăng mạnh nhờ doanh thu và thu nhập lãi, củng cố quan điểm là công ty sẽ đạt tăng trưởng lợi nhuận dương trong năm 2019 nhờ các sản phẩm bóng đèn LED mới, có giá cạnh tranh. Các sản phẩm bóng đèn LED mới, có giá cạnh tranh thúc đẩy doanh thu. Doanh thu từ thị trường trong nước của DQC đang cải thiện nhờ các sản phẩm LED mới, có giá bằng hoặc cao hơn không quá 5% so với sản phẩm các đối thủ, trong khi các sản phẩm trước đây của DQC có giá cao hơn đến 15%-20%. Biên LN từ HĐKD giảm 0,5 điểm % do mở rộng đội ngũ bán hàng, phần nào được bù đắp nhờ tiền thưởng tính theo KPI giảm. Để có thể hỗ trợ các điểm bán lẻ tốt hơn, công ty đã tăng cường đáng kể đội ngũ bán hàng năm 2018, khiến chi phí nhân viên bán hàng tăng mạnh 32% từ 35 tỷ đồng năm 2017 lên 46 tỷ đồng năm 2018. Trong khi đó, vì DQC không đạt mục tiêu lợi nhuận năm 2017 nên tiền thưởng cho nhân viên tính theo KPI năm 2018 (được tính vào chi phí quản lý) giảm một nửa xuống 15 tỷ đồng. Thu nhập lãi thuần giảm do số dư tiền mặt giảm. Số dư tiền mặt trung bình của DQC giảm từ 586 tỷ đồng năm 2017 xuống 334 tỷ đồng năm 2018 sau 3 đợt trả cổ tức bằng tiền mặt (tháng 1, 3 và 9/2018), một đợt mua lại cổ phiếu tỷ lệ 2% trong tháng 1/2018 và đầu tư XDCB tổng cộng 68 tỷ đồng năm 2018, trong đó phần lớn được dùng để xây dựng nhà máy LED mới. Các khoản lợi nhuận khác ngoài HĐKD cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng lợi nhuận. DQC ghi nhận lỗ 3,3 tỷ đồng từ các công ty liên doanh, liên kết trong năm 2018 trong khi được ghi nhận lãi 4,4 tỷ trong năm 2017. Trên cơ sở thông tin do công ty công bố, chuyên gia cho rằng nguyên nhân của khoản lỗ có thể là dự phòng đầu tư tài chính của một công ty liên kết trong Quý 2 và Quý 3/2018. Trong Quý 4/2018, DQC lại ghi nhận thêm 2 tỷ đồng dự phòng cho đầu tư tài chính ở công ty mẹ. Công ty cũng ghi nhận khoảng 10 tỷ đồng lãi chênh lệch tỷ giá trong Quý 4/2017, liên quan đến một dự án cũ ở Venezuela. Khoản lãi này được xem là một khoản mục bất thường.

Công ty cổ phần Vinhomes – VHM
VHM vừa công bố báo cáo tài chính quý IV/2018 với doanh thu gấp 5 lần cùng kỳ đạt 16.400 tỷ đồng. Giá vốn tăng chậm hơn giúp lợi nhuận gộp gấp 7 lần cùng kỳ lên 2.735 tỷ đồng. Doanh thu tài chính trong kỳ gấp gần 11 lần cùng ở mức 3.644 tỷ đồng trong khi chi phí tài chính chỉ tăng nhẹ. Điều này là do công ty nhận 2.533 tỷ lợi nhuận được chia từ các hợp đồng hợp tác kinh doanh với Vingroup cho mục đích phát triển dự án Vinhomes Riverside 2 The Harmony, Vinhomes Imperia Hải Phòng, Vinhomes Dragon Bay và Vinhomes Star City (lợi nhuận cả năm 2018 là 9.549 tỷ đồng). Yếu tố tích cực khác là công ty không còn lỗ từ liên doanh liên kết (cùng kỳ lỗ 386 tỷ), lỗ khác cũng giảm hơn 100 tỷ so với cùng kỳ. Trong khi đó chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp gia tăng mạnh là các yếu tố bất lợi. Kết quả, Vinhomes ghi nhận 4.508 tỷ lợi nhuận trước thuế và 2.558 tỷ lợi nhuận sau thuế. Cùng kỳ năm ngoái công ty lỗ hơn 960 tỷ đồng sau thuế. Theo giải trình của công ty, lợi nhuận tăng là do Vinhomes đã hợp tác cùng phát triển các dự án lớn mang lại doanh thu tài chính lớn như trên. Ngoài ra, Vinhomes có thêm nhiều dự án của các công ty con bắt đầu bàn giao, trong đó riêng 2 dự án Vinhomes Golden River và Vinhomes Metropolis Liễu Giai đã mang về 7.881 tỷ và 3.060 tỷ doanh thu trong quý IV. Tính cả năm 2018, doanh thu Vinhomes tăng trưởng 150% đạt 38.806 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế thu về 14.754 tỷ đồng, gấp 9,4 lần năm 2017. EPS ghi nhận 4.551 đồng. Tại thời điểm cuối năm, tổng tài sản của Vinhome tăng gấp đôi từ 51.304 tỷ đầu năm lên 117.808 tỷ đồng. Trong đó lượng tiền mặt và và tiền gửi tăng thêm 2.000 tỷ, các khoản phải thu ngắn hạn tăng gần 17.000 tỷ, hàng tồn kho tăng 10.000 tỷ, tài sản ngắn hạn khác tăng 6.000 tỷ, tài sản dở dang dài hạn tăng hơn 20.000 tỷ đồng. Tổng vay nợ của Vinhome theo đó cũng tăng mạnh từ 15.327 tỷ lên 31.909 tỷ đồng, dù vậy tỷ trọng nợ/tổng tài sản vẫn duy trì ở mức dưới 30%. Vốn chủ sở hữu tăng 38.000 tỷ do công ty thực hiện tăng vốn điều lệ từ 2.000 tỷ lên 33.495 tỷ đồng và lợi nhuận chưa phân phối đạt mức 7.556 tỷ đồng.


Link zalo HỎI – ĐÁP THỊ TRƯỜNG: https://zalo.me/g/zuewgn139
SĐT/ ZALO/ VIBER: 0902317927 – Anh Tuấn Đông Tà.

(Nguồn: do Công ty CP Biên An Toàn tổng hợp tin)