BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 14/02/2019

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ

Chỉ số Dow Jones tăng 117.51 điểm (tương đương 0,46%) lên 25,543.27 điểm, chỉ số S&P 500 tăng nhẹ 0.5 điểm (tương đương 0.02%) lên 2,749.62 điểm và chỉ số Nasdaq Composite tăng nhẹ 5.76 điểm (tương đương 0.08%) lên 7,420.38 điểm. Trên thị trường Trung Quốc, chỉ số Shanghai Composite tăng 1.84% lên 2,721.07 điểm. Shenzhen Composite tăng 1.872% lên 1,389.68 điểm, còn Shenzhen Composite leo dốc 2.012% và đóng cửa ở mức 8,171.21 điểm. Bên cạnh đó, chỉ số Hang Seng của Hồng Kông tăng 326.26 điểm (tương đương 1.16%) lên 28,497.59 điểm. Ở Nhật Bản, chỉ số Nikkei 225 nới dài chuỗi tăng trước đó, tăng 1.34% lên 21,144.48 điểm,Topix tăng 1.06% lên 1,589.33 điểm. Bên cạnh đó, chỉ số Kospi của Hàn Quốc cũng tăng 0.5% lên 2,201.48 điểm.

TIN GIÁ DẦU

Giá dầu thô tăng đáng kể so với thời điểm hôm qua, với giá dầu WTI trên hợp đồng tương lai ở vào 53,97 USD/thùng trong khi đó giá dầu Brent giảm nhẹ còn 63,65 USD/thùng vào thời điểm viết bản tin này. Thông tin về Saudi Arabia tiếp tục cắt giảm sản lượng đã đẩy giá dầu tăng khi Bộ trưởng Năng lượng của nước này, Khalid al-Falih cho biết sản lượng tháng 3 sẽ vào khoảng 9,8 triệu thùng/ngày, giảm so với mức 11 triệu thùng/ngày như trong tháng 11.Trong khi đó, các chuyên viên phân tích ở Standard Chartered cũng chỉ ra rằng tăng trưởng nguồn cung của các nước xuất khẩu dầu mỏ ngoài OPEC có thể giảm khoảng 900.000 thùng/ngày so với năm 2018 xuống chỉ 1,518 triệu thùng/ ngày trong năm 2018 và tiếp tục giảm trong năm 2020. Với thực tế giá dầu giảm cùng với những vấn đề khác mà cơ quan này chỉ ra thì ra sản xuất dầu đá phiến dự báo sẽ chậm lại đáng kể, tuy nhiên truyền thông có vẻ vẫn chưa phản ảnh thực tế này. Cuối cùng, tiếp nối chuỗi thông tin tích cực cho giá dầu hôm nay, API công bố tồn kho dầu thô trong tuần kết thúc vào ngày 8/2 giảm 998.000 thùng, trái ngược với dự báo của thị trường là tăng thêm 2,3 triệu thùng.

TIN VĨ MÔ TRONG NƯỚC

Ba ngân hàng lớn trong nước đã thể hiện mong muốn chính phủ nới room (hiện là 30%) nhằm đáp ứng nhu cầu tăng vốn mới trước sự tăng trưởng mạnh của tài sản cũng như quy định chặt chẽ hơn đối với hệ số CAR khi Basel 2 được áp dụng. Các bài báo đã trích lời Chủ tịch HĐQT Vietcombank Nghiêm Xuân Thành và Chủ tịch HĐQT VietinBank Lê Đức Thọ. Đồng thời các bài báo cũng cho biết BIDV (BIDV đang trong quá trình bán 15% cổ phần cho KEB Hana của Hàn Quốc) cũng rất quan tâm đến việc nới room.

 

TIN VĨ MÔ THẾ GIỚI

Tại Mỹ qua Chỉ số lạc quan doanh nghiệp nhỏ của NFIB được công bố giảm từ 104,4 điểm trong tháng 12 xuống còn 101,2 điểm trong tháng 1; thấp hơn nhiều kỳ vọng của thị trường là 103,2 điểm và cũng là mức thấp nhất kể từ tháng 11/2016. Cũng tại Mỹ, khảo sát cơ hội việc làm JOLT cho thấy số cơ hội việc làm mới đã đạt mức cao kỷ lục 7.355.000 vào tháng 12, tăng khoảng 200.000 cơ hội việc làm so với tháng trước, chủ yếu là từ khu vực kinh tế tư nhân. PPI trong tháng 1 của Nhật Bản tăng 0,6% so với cùng kỳ, thấp hơn mức tăng 1,5% so với cùng kỳ của tháng trước và cũng thấp hơn nhiều kỳ vọng của thị trường là tăng 1,1%. Giá xăng dầu và than giảm 5% so với cùng kỳ là nguyên nhân chính ở đây. Trong khi đó, giá trị sản xuất công nghiệp khu vực Eurozone giảm 4,2% so với cùng kỳ trong tháng 1, tăng tốc từ mức giảm 3,3% so với cùng kỳ trong tháng trước đó và cũng kém hơn kỳ vọng của thị trường là giảm 2-3,2% so với cùng kỳ.

TIN NGÀNH

Ngành Thép
Quặng sắt sẽ là hàng hóa được giới đầu tư thế giới theo dõi chặt chẽ nhất trong tuần này khi thị trường Trung Quốc trở lại giao dịch sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Giá quặng sắt tại Trung Quốc tăng liên tục trong những tuần giáp Tết Nguyên đán 2019 vì nhu cầu tích trữ hàng tăng. Trái ngược với dự đoán giá sẽ giảm sau kỳ nghỉ Tết, giá vật liệu này tiếp tục tăng mạnh vì lo ngại thiếu nguồn cung từ Brazil. Một số nhà phân tích tại dự đoán giá quặng sắt có thể đạt ba con số trong những ngày tới khi Trung Quốc bắt đầu cảm nhận hoàn toàn tác động từ cú sốc nguồn cung tại Brazil, nơi cung cấp 30 triệu tấn quặng sắt/năm cho thế giới. Sau sự cố vỡ đập tại một trong những khu vực khai thác quặng lớn nhất Brazil, chính phủ nước này yêu cầu tập đoàn Vale ngưng sử dụng 8 con đập để chứa chất phế thải. Dự báo, sản lượng quặng sắt của Vale sẽ giảm 9% và tập đoàn này không thể thực hiện các đơn hàng xuất khẩu. Hơn nữa, sự cố tại Brazil lại trùng với thời gian các doanh nghiệp thép Trung Quốc đẩy mạnh tích trữ hàng trước mùa xây dựng sau Tết. Ngân hàng Credit Suisse, ANZ và Commonwealth là ba trong số nhiều ngân hàng dự đoán giá quặng sắt sẽ lên cao hơn. Ngay cả Goldman Sachs, một ngân hàng lâu nay vẫn bi quan vào giá vật liệu này, cũng dự đoán giá sẽ phục hồi vì cho rằng các nước sản xuất ngoài Brazil không thể tăng sản lượng đủ nhanh để lấp chỗ trống về nguồn cung trên thị trường. “Trong ngắn hạn, sự cố gián đoạn nguồn cung tại Brazil và những bất ổn xung quanh sẽ đẩy giá và biến động giá quặng sắt lên cao. Bởi, các nước sản xuất khác không thể điều chỉnh sản lượng đủ nhanh để bù đắp sự thiếu hụt từ Brazil”, nhóm phân tích của Goldman cho biết. Chiến lược gia hàng hóa cấp cao, Daniel Hynes, tại ANZ cho biết ngân hàng này vừa nâng dự đoán giá quặng sắt trong ngắn hạn. “Các chuyên gia dự đoán giá giao ngay sẽ vượt 80 USD/tấn trong quý I và sẽ tiếp tục tăng nếu thiệt hại tại Brazil lớn hơn ước tính ban đầu”. Về dài hạn, giá quặng sắt giao ngay được dự báo ở 82 USD/tấn vào cuối tháng 6 trước khi giảm về 72 USD/tấn khi sang năm 2020. Cũng theo nhận định của nhóm chuyên gia tại Morgan Stanley, thị trường quặng sắt sẽ không sớm đảo chiều. “Một khi bất ổn vẫn còn, quặng sắt vẫn có khả năng tăng giá trong ngắn hạn”.Với đà tăng mạnh của giá quặng sắt, giá thép thanh trên Sàn giao dịch Hàng hóa Tương lai Thượng Hải tăng hơn 4% lên cao nhất 5 tháng ở 3.908 nhân dân tệ/tấn trong phiên 11/2. Tương tự, giá thép cuộn cán nóng có lúc lên cao nhất kể từ tháng 9/2018. Giá thép tăng chủ yếu do giá nguyên liệu đầu vào tăng. Ba năm qua, ngành thép Trung Quốc hưởng lợi lớn nhờ các biện pháp kích thích và chiến dịch cắt giảm nguồn cung của chính phủ. Tuy nhiên, 2019 sẽ không phải là một năm vui vẻ đối với ngành thép bởi triển vọng tiêu thụ vẫn u ám trong bối cảnh kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm chạp. Thông thường, khi kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, chính phủ sẽ triển khai các biện pháp kích thích để thúc đẩy tăng trưởng. Tuy nhiên, sang năm 2019, chính phủ Trung Quốc giữ tâm lý thận trọng hơn trong việc tung các gói kích thích kinh tế, khiến ngành thép hoang mang về triển vọng tăng trưởng nhu cầu. Thực tế cho thấy, doanh số bán hàng ôtô tại Trung Quốc, ngành sản xuất tiêu thụ thép cuộn cán nóng lớn, giảm 2,8% trong năm 2018. Thị trường bất động sản cũng được dự báo suy yếu trong năm nay dù nhiều dự án vẫn chưa hoàn thành. Với cả hai ngành này, các cơ quan quản lý cho tới thời điểm hiện tại đều chưa có động thái hỗ trợ nào. Khả năng chính phủ giảm thuế mua ôtô và nới lỏng quy định mua nhà được cho là không có. Thay vì kỳ vọng vào chủ trương đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng của chính phủ, thị trường giờ chuyển sang lo ngại rằng chính quyền địa phương sẽ không có đủ vốn để khởi công các dự án này. Rủi ro Mỹ và Trung Quốc không đạt được thỏa thuận thương mại nào vẫn đè nặng lên tâm lý của người tiêu dùng và doanh nghiệp. Hơn nữa, theo truyền thông trong nước, chính phủ sẽ triển khai thêm các biện pháp hạn chế sản xuất vào cuối năm nay, đồng thời hy sinh mục tiêu về môi trường để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Ngành Thuỷ Sản
Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) cho biết, năm 2018, tổng giá trị xuất khẩu cá tra sang EU đạt 243,9 triệu USD, tăng 20,2% so với năm 2017. Mức tăng trưởng khả quan này tạo tâm lý tốt cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra trong năm 2019. Trong năm qua, duy trì tháng 1-2/2018, giá trị xuất khẩu cá tra sang EU giảm 13,2% và 15,3% so với cùng kỳ năm 2017. 10 tháng còn lại, xuất khẩu cá tra sang EU tăng trưởng dương liên tục. Trong đó, giá trị xuất khẩu sang 4 thị trường xuất khẩu lớn nhất là Hà Lan, Anh, Đức và Bỉ tương đối ổn định. Theo thống kê của Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), 11 tháng đầu năm 2018, giá trị nhập khẩu cá thịt trắng của EU tăng 8,6%, trong đó, nhập khẩu từ Anh, Pháp và Bồ Đào Nha tăng mạnh. Giá nhập khẩu cá tra sang thị trường EU trong 9 tháng đầu năm nay cũng tăng mạnh lên mức hơn 3 USD/kg. Đây là mức giá cao nhất kể từ năm 2016. Thống kê mới nhất của ITC cũng cho thấy, trong cơ cấu nhập khẩu cá thịt trắng của EU 10 tháng đầu năm 2018, cá Cod phile đông lạnh (HS 030471) vẫn là sản phẩm chiếm tỷ trọng cao nhất gần 26% tổng nhập khẩu cá thịt trắng, tiếp đó là cá Alaska pollack phile đông lạnh (HS 030475); cá Cod đông lạnh (HS 030363); cá Hake phile đông lạnh (HS 030474)… Trong thời gian này, nhập khẩu cá Hake đông lạnh (HS 030366) tăng mạnh nhất: 27,8% so với cùng kỳ năm 2017. Nhập khẩu cá tra, basa phile đông lạnh (HS 030462) của EU trong 10 tháng đầu năm 2018 cũng tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, sản phẩm cá tra cũng đang cạnh tranh ngược lại với sản phẩm cá rô phi, cá minh thái Alaska pollock tại một số thị trường trọng điểm tại Châu Âu. Sự thay thế sản phẩm cá tra trong một số phân khúc thị trường đang diễn ra trên khắp Châu Âu với mức độ khác nhau. Năm 2018, giá trị xuất khẩu cá tra sang thị trường EU khả quan trở lại là do giá nguyên liệu cá tra trong nước tăng kéo giá xuất khẩu tăng lên; giá trị xuất khẩu sang một số thị trường lớn tại khu vực này như: Hà Lan tăng 33,4%; Anh tăng 6%; Đức tăng 10,5%; Bỉ tăng 11,8% so với năm trước. Riêng trong tháng 12/2018, xuất khẩu cá tra sang 4 thị trường này tăng trưởng rất mạnh, giá trị xuất khẩu sang Hà Lan tăng 71,3%; Anh tăng 75,4%; Đức tăng 45,2% và Bỉ tăng 144,8%. Trong hai quý cuối năm, xuất khẩu cá tra sang Hà Lan, Đức và đặc biệt là Bỉ tăng trưởng tốt. Sự phục hồi và tăng trưởng xuất khẩu cá tra ở lại thị trường EU sau nhiều năm liên tiếp giá trị xuất khẩu giảm đã tạo tâm lý tốt cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sang thị trường này. VASEP dự báo năm 2019, xuất khẩu cá tra sang EU tiếp tục tăng ở mức từ 20-35% so với năm 2018.

TIN DOANH NGHIỆP

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển thành phố Hồ Chí Minh (HDB: HOSTC)
Theo kết quả kinh doanh 2018 mới công bố, HDBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 4.004 tỷ đồng, tăng trưởng 66%. Kết quả trên đạt được nhờ cả Ngân hàng mẹ và HD Saison đều cho lợi nhuận tốt, lần lượt đạt 3.250 tỷ (tăng trưởng 59%) và 898 tỷ đồng (tăng 73%). Như vậy, HD Saison đóng góp 22% tổng lợi nhuận trước thuế. Phân tích sâu về danh mục cho vay khách hàng, các nhà phân tích cho biết ngân hàng mẹ ghi nhận mức tăng trưởng 18,3%, nằm trong hạn mức do Ngân hàng Nhà nước cho phép. Trong khi đó, HD Saison tăng trưởng cho vay 12,7%. Về huy động khách hàng, HDBank nghiêng hơn về tiền gửi trung và dài hạn. Tiền gửi có kỳ hạn tăng 10,85% đạt 116,67 nghìn tỷ đồng (đóng góp 91,02% tổng tiền gửi khách hàng). Tiền gửi không kỳ hạn giảm 25,34% xuống 11,47 nghìn tỷ đồng (đóng góp 8,96% tổng tiền gửi khách hàng). Toàn bộ tiền gửi khách hàng là từ Ngân hàng mẹ HDB, do nguồn huy động chủ yếu của HD Saison là vay liên ngân hàng và phát hành giấy tờ có giá. Theo kỳ hạn, các nhà phân tích nhận thấy HDB đã phát hành gần 5.000 tỷ đồng giá trị trái phiếu trung và dài hạn trong năm 2018 (tăng 129,0% dẫn đến số dư GTCG dài hạn tăng từ 930 tỷ đồng lên 6.000 tỷ đồng). Nhờ vậy, Ngân hàng có thể chủ động khi tỷ lệ vốn ngắn hạn được phép sử dụng cho vay trung dài hạn sẽ giảm từ 45% xuống 40% từ tháng 1/2019.Tỷ lệ NIM của HDB trong năm qua tăng đáng kể, bên cạnh đó chi phí dự phòng cũng giảm và chi phí hoạt động được kiểm soát rất tốt. Nhờ vậy lợi nhuận ghi nhận mức tăng trưởng rất mạnh mẽ. Ở HD Saison, thu nhập hoa hồng bảo hiểm và thu nhập từ thu hồi nợ xấu tăng mạnh, giúp tăng thu nhập ngoài lãi. Lợi nhuận trước thuế của công ty tài chính tiêu dùng này tăng trưởng 73% mặc dù cho vay khách hàng chỉ tăng nhẹ 12,7%. Các nhà phân tích đánh giá triển vọng lợi nhuận của HDBank năm 2019 rất khả quan, dự kiến tăng trưởng 27,3% đạt 5.098 tỷ đồng. Kế hoạch này được xây dựng dựa trên các giả định gồm: cho vay khách hàng tăng trưởng 18,2% so với năm 2018 đạt 145.000 tỷ đồng. Trong đó, cho vay khách hàng của HDB tăng trưởng 18% và HD Saison tăng trưởng 20%. Tiền gửi khách hàng tăng trưởng 14,1% đạt 146.000 tỷ đồng. Hệ số cho vay trên huy động (LDR) thuần của HDB dự báo tăng lên 90,85% từ mức 87,77% trong năm 2018. Tỷ lệ NIM tăng 0,43% lên 4,47% chủ yếu nhờ tỷ lệ NIM tại HDBank tăng 0,3%. Trong khi đó, tỷ lệ NIM tại HD Saison sẽ giữ nguyên ở 27% trong năm 2019. Thu nhập lãi thuần tăng trưởng 20,9% đạt 9.243 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần của HDB tăng trưởng 21,7% và HD Saison tăng 19,7%. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng trưởng 20,3% đạt 2.159 tỷ đồng. Cả HDB và HD Saison đều được CÁC NHÀ PHÂN TÍCH nhận định sẽ đạt mức tăng trưởng cao về lãi thuần từ hoạt động dịch vụ, đặc biệt là HDB khi Ngân hàng bắt đầu đẩy mạnh hoạt động bancassurance. Hệ số chi phí trên thu nhập (CIR) dự kiến sẽ tiếp tục giảm về 41,7% từ mức 47% của năm 2018, cho thấy ngân hàng tiếp tục kiểm soát chi phí hiệu quả hơn. Các hệ số sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROAE) năm 2018 là 20,3% và trên tài sản (ROAA) là 1,58%. Các nhà phân tích dự báo ROAE năm 2019 là 23,2%; ROAA là 1,87%. Các giả định trên chưa tính đến thương vụ M&A với PG Bank vẫn đang đợi phê duyệt cuối cùng từ NHNN. Các chuyên gia vẫn giữ quan điểm tích cực với thương vụ này và cho rằng quan hệ hợp tác độc quyền với Petrolimex trong 10 năm có thể giúp HDBank hoàn thiện chiến lược bán lẻ đa ngành nghề. Khi đó hiệu quả mang lại sẽ còn cao hơn nữa.

Công ty Cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát (AAA: HOSTC)
Ngay trong tháng đầu tiên của năm 2019, Công ty cổ phần Nhựa & Môi trường xanh An Phát (An Phát Plastic, Mã CK: AAA) đã ghi nhận kết quả xuất khẩu kỷ lục. Toàn bộ nhà máy đã xuất khẩu được 9.100 tấn bao bì màng mỏng chất lượng cao và túi vi sinh phân hủy hoàn toàn thân thiện môi trường AnEco đi thị trường các nước thuộc khối EU và Nhật Bản, đây cũng là các thị trường nổi tiếng khó tính với những yêu cầu ngặt nghèo về chất lượng và tiến độ. Con số 9.100 tấn xuất khẩu trong tháng 1 là mức kỷ lục, tăng 137% so với cùng kì năm ngoái và vượt trên 1.000 tấn so với kế hoạch mục tiêu (dự kiến xuất khẩu 8.000 tấn). Đây là tín hiệu rất khả quan của AAA trên chặng đường chinh phục mục tiêu doanh thu đạt 7.900 tỷ đồng trong năm 2019. An Phát Plastic là công ty thành viên của Tập đoàn An Phát Holdings (APH). Hiện nay, sản phẩm bao bì màng mỏng và túi vi sinh phân hủy hoàn toàn AnEco của AAA đang được xuất khẩu đi hơn 50 quốc gia và khu vực trên toàn thế giới như EU, Mĩ, các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất (UAE), Úc, Nhật Bản…và nhận được đánh giá rất cao. Cũng trong tháng 1 vừa qua, An Phát Holdings đã quyết định xây một nhà máy sản xuất bao bì thân thiện với môi trường tại Mỹ. Một đơn vị thành viên nữa của APH là Công ty cổ phần xơ sợi tổng hợp An Sơn (An Sơn Textile) cũng vừa đón nhận tin vui đầu năm khi những chuyến hàng sợi Anpoly của công ty đã được xuất đi Thái Lan. Cụ thể, Công ty đã xuất được 22,5 tấn sợi 75/72 và 45 tấn sợi 75/36 sang Thái Lan. Tính đến thời điểm hiện tại, An Sơn đã xuất bán được hơn 1.000 tấn sản phẩm sợi DTY các loại ra thị trường. Dự kiến trong Quý 1/2019, bên cạnh đẩy mạnh tiêu thụ nội địa, Công ty tiếp tục mở rộng chào bán sản phẩm tại các thị trường xuất khẩu khác như Hàn Quốc, Mỹ, Pakistan… Ngày 29/01/2019 vừa qua, An Sơn cũng đã được Viện Textiles Testing Hohenstein Đức cấp chứng chỉ OEKO-TEX Standard 100 – chứng chỉ uy tín nhất thế giới về sự an toàn của các nguyên liệu thuộc ngành dệt may. Đây là tiền đề để sản phẩm sợi Anpoly sẵn sàng tiến vào thị trường EU.

Công ty Cổ phần Cơ điện lạnh (REE: HOSTC)
Công ty công bố KQKD Q4 rất khả quan, với LNST của cổ đông công ty mẹ tăng 62,9% so với cùng kỳ đạt 551 tỷ đồng, nhờ đóng góp tốt của các công ty ở mảng điện như PPC hoặc TMP, và hoàn nhập 66,3 tỷ đồng dự phòng giảm giá cổ phiếu cho QTP. Tuy nhiên, doanh thu thuần giảm nhẹ 1,9% so với cùng kỳ xuống 1.635 tỷ đồng do mảng điều hòa cho KQKD kém khả quan. Cho cả năm 2018, công ty báo đạt doanh thu thuần 5.101 tỷ đồng (tăng trưởng 2,1%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 1.784 tỷ đồng (tăng trưởng 29,5%). Với kết quả này, công ty chỉ hoàn thành 89,6% kế hoạch doanh thu cả năm nhưng vượt 30,3% kế hoạch lợi nhuận. Kết quả này sát với dự báo của các chuyên gia về doanh thu, là 5.028 tỷ đồng nhưng cao hơn 14% so với dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ của các chuyên gia do lợi nhuận của các công ty ở mảng điện cao hơn dự báo và hoàn nhập dự phòng như đề cập trên đây. Lợi nhuận năm 2018 tăng trưởng mạnh nhờ đóng góp tốt của mảng điện và hoàn nhập dự phòng giảm giá cổ phiếu. Mảng M&E cho doanh thu khá tốt với khối lượng công việc lớn, trong khi đó hoạt động của Reetech lại kém khả quan hơn. Ở mảng cho thuê văn phòng, tòa nhà mới tại Quận 4 hỗ trợ tăng trưởng doanh thu chính, mặc dù đóng góp lợi nhuận ở giai đoạn này là không đáng kể. Cho năm 2019, các chuyên gia dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ giảm 8,7% so với năm 2018 do hoạt động của mảng thủy điện sẽ kém khả quan hơn khi bị ảnh hưởng bởi El Nino. Room nước ngoài ở REE đã đầy và công ty chưa có kế hoạch nới room cũng như tăng vốn chủ sở hữu trong thời gian tới. Trong khi đó công ty sẽ tăng vay nợ với chi phí khá rẻ để mua thêm quỹ đất cho phát triển các dự án văn phòng cho thuê. Định giá cổ phiếu hợp lý với P/E dự phòng 2019 là 6,8 lần. Các chuyên gia cũng lưu ý rằng chi phí lãi vay tăng mạnh lên 226 tỷ đồng (tăng 114,9% so với năm 2017) do tăng vay nợ. Do đó, trong năm 2018 công ty ghi nhận thu nhập tài chính thuần là 192 tỷ đồng so với mức lỗ thuần 100 tỷ đồng trong năm 2017. Mảng điện cho KQKD tốt với đóng góp mới từ VCW giúp tăng lợi nhuận từ các công ty liên kết – Lợi nhuận từ các công ty liên kết tăng trưởng 38,9% lên 999 tỷ đồng nhờ KQKD tốt hơn của các công ty điện như PPC và TMP với sản lượng điện tăng và giá bán cao hơn. Hơn nữa, REE ghi nhận phần lợi nhuận đầu tiên, 78 tỷ đồng từ Công ty cổ phần Nước sạch Vinaconex (VCW) sau khi VCW trở thành công ty liên kết của REE từ tháng 12/2017 (REE nắm 35,88% cổ phần). Công ty tăng vay nợ để mua thêm quỹ đất nhằm phát triển mảng cho thuê văn phòng – Tại thời điểm ngày 31/12, tổng tiền và tiền gửi kỳ hạn ngắn là 2.978 tỷ đồng (tăng 3,2%) trong khi đó tổng nợ tăng 6,7% lên 3.181 tỷ đồng. Tỷ lệ nợ/vốn chủ sở hữu vẫn ở mức thấp là 0,25 lần tại thời điểm cuối Q4. Gần đây HĐQT REE đã thông qua kế hoạch phát hành 100 triệu USD (tương đương 2.320 tỷ đồng) trái phiếu thường kỳ hạn 10 năm trong Q1/2019 với lãi suất coupon bằng lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm cộng biên độ (lãi suất tối đa 7,3%/năm). Công ty sẽ phát hành trái phiếu nhằm tài trợ cho các dự án cho thuê văn phòng đang triển khai và để mua thêm quỹ đất tại TP HCM với mục đích phát triển văn phòng cho thuê. Trái phiếu được Credit Guarantee and Investment Facility (CGIF), thuộc Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) bảo lãnh. REE đã sử dụng 60,37% cổ phần trong CTCP Thủy điện Thác Bà (TBC), 25,76% cổ phần trong CTCP Thủy điện Sông Ba Hạ (SBH) làm tài sản đảm bảo. Danh mục đầu tư của REE chiếm 45,3% tổng tài sản, chủ yếu là đầu tư ở mảng nước và điện – Tổng giá trị đầu tư dài hạn của REE là 7.019 tỷ đồng (tăng 11,4%), chiếm 45,3% tổng tài sản. Cụ thể: Đầu tư vào ngành điện có tỷ trọng lớn nhất, chiếm 69,3% tổng giá trị đầu tư với giá trị là 4.864 tỷ đồng (tăng 10,1%). Đầu tư vào ngành nước chiếm 20,8% với giá trị là 1.457 tỷ đồng (tăng 11,3%). BĐS chiếm 6,2% với giá trị là 439 tỷ đồng (tăng 59,3%). Các mảng khác chiếm 3,7% với giá trị là 259 tỷ đồng (giảm 11%). Trong khi mảng BĐS và mảng nước cho kết quả tốt, kết quả kinh doanh ở mảng điện lại không đồng đều, với một số nhà máy điện ở Miền Trung gặp khó khăn do lượng mưa ít trong khi các nhà máy thủy điện khác ở phía Bắc và phía Nam lại hưởng giá bán bình quân cao hơn và nhờ vậy bù đắp sản lượng điện giảm. Đồng thời, các nhà máy nhiệt điện cho kết quả tốt nhờ nhu cầu điện tăng mạnh nên sản lượng điện sản xuất ổn định. Cho năm 2019, các nhà phân tích dự báo LNST của cổ đông công ty mẹ giảm 8,7% – Các chuyên gia dự báo doanh thu thuần năm 2019 đạt 5.534 tỷ đồng (tăng trưởng 8,5%) và LNST của cổ đông công ty mẹ đạt 1.629 tỷ đồng (giảm 8,7%). Theo đó, các chuyên gia dự báo EPS dự phóng 2019 là 5.150đ, P/E dự phóng là 6,8 lần và P/B dự phóng là 1,1 lần.


Link zalo HỎI – ĐÁP THỊ TRƯỜNG: https://zalo.me/g/zuewgn139
SĐT/ ZALO/ VIBER: 0902317927 – Anh Tuấn Đông Tà.

(Nguồn: do Công ty CP Biên An Toàn tổng hợp tin)