BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 13/02/2019

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ

Thị trường chứng khoán Mỹ có một phiên tăng điểm với chỉ số DowJones tăng 372.65 điểm (+1.49%) lên mốc 25,425.76 điểm, chỉ số S&P 500 tăng 34.93 điểm (1.29%) lên 2,744.73 điểm, chỉ số Nasdaq tăng 106.71 điểm (1.46%) lên 7,414.62 điểm. Chứng khoán tăng mạnh trong bối cảnh lạc quan rằng việc đóng cửa chính phủ sẽ được đàm phán lại, mặc dù TT Trump bày tỏ thất vọng trong thỏa thuận này. Thỏa thuận này chỉ bao gồm 1.375 tỷ đô cho hàng rào biên giới, thấp hơn 5.7 tỷ mà Trump đã yêu cầu. Về thương mại, Trump cho biết ông có thể thỏa thuận gia hạn thời gian đàm phán với Trung Quốc khi hết hạn vào ngày 1/3/2019. Ngoài ra các cổ phiếu ngân hàng Mỹ tăng nhờ tình hình rủi ro được cải thiện, chứng khoán công nghệ tăng mạnh nhờ sự tăng giá của cổ phiếu bán dẫn và ngành năng lượng được hỗ trợ bởi mức tăng giá dầu. Trong khi đó thị trường các nước châu Âu như Đức có phiên giao dịch tăng 111.49 điểm lên mức 11,126.08 điểm. Trong khi đó, ở Châu Á cũng có biến động đồng pha khi chỉ số NIKKEI 225 của Nhật tăng 531.04 điểm lên mốc 20,864.21 điểm, chỉ số Shanghai tăng nhẹ 18 điểm về mốc 2,671.89 điểm.

TIN GIÁ DẦU

Giá dầu tăng nhẹ trong 24h qua, với giá dầu WTI trên hợp đồng tương lai ở vào 53.36 USD/thùng trong khi đó giá dầu Brent ở vào 62.61 USD/thùng vào thời điểm viết báo cáo này. Có vẻ như thị trường hiện đã tiếp nhận quan điểm ôn hòa hơn của các ngân hàng trung ương, và mặc dù báo chí vẫn tiếp tục đưa tin, thì có vẻ như vấn đề Venezuela cũng đã được phản ánh vào giá dầu, do đó sự rung lắc vào đầu năm mới có vẻ đã tạm ngừng. Dĩ nhiên căng thẳng thương mại Mỹ/Trung và sự giảm tốc của nền kinh tế thế giới vẫn là yếu tố tác động đến thị trường, tuy nhiên có vẻ như thị trường ngày càng mệt mỏi và/hoặc chấp nhận rằng thỏa thuận giữa hai nước này phải/sẽ đạt được. Và do đó câu hỏi hiện tại nghiêng về thời điểm đạt được thỏa thuận thay vì khả năng đạt được thỏa thuận. Sản lượng dầu tại Bắc Mỹ tăng cũng ít tác động đến thị trường hơn trước đây. Do đó, có vẻ như White Policy sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đến giá dầu trong hai hoặc ba tháng tới.

TIN VĨ MÔ THẾ GIỚI

CPI tháng 1 tại Mỹ ước tăng 2,97% so với cùng kỳ, không thay đổi nhiều so với mức tăng 3% so với cùng kỳ của tháng trước và cũng sát kỳ vọng của thị trường. Trong khi đó tại Nhật Bản, đơn hàng công cụ máy móc trong tháng 1 giảm 18,8% so với cùng kỳ (tháng trước đó giảm 18,3% so với cùng kỳ). Cũng tại Nhật Bản, chỉ số ngành dịch vụ trong tháng 1 giảm 0,3% so với tháng liền trước; cải thiện so với mức giảm 0,4% trong tháng 12 nhưng kém hơn kỳ vọng của thị trường là tăng 0,45%. Anh công bố GDP tháng 12 tăng 1% so với cùng kỳ, giảm tốc từ mức tăng trưởng 1,5% trong tháng 11. Kết quả này cũng thấp hơn kỳ vọng của thị trường là tăng trưởng 1,4-1,5%. Giá trị sản xuất công nghiệp giảm 0,9% so với cùng kỳ; cải thiện từ mức giảm 1,3% của tháng trước nhưng kém hơn kỳ vọng của thị trường là giảm 0,3-0,4%. Đầu tư của các doanh nghiệp trong Q4/2018 tại Anh cũng giảm 3,7% so với cùng kỳ, đánh dấu mức kém nhất kể từ Q1/2010 và quý thứ 4 liên tiếp giảm.[Tin Vĩ Mô Trong Nước] Sau khi được đưa vào danh sách theo dõi nâng hạng của FTSE Russell Emerging Markets Index vào tháng 9, ông Lê Hải Trà, người đứng đầu HOSE đã phát biểu rằng mục tiêu của sở là chính thức được nâng hạng lên thị trường mới nổi vào năm 2019. Để có thể được nâng hạng lên thị trường mới nổi thứ cấp, Việt Nam cần thỏa mãn 8 trong số 9 tiêu chí. Sau đó sẽ vẫn còn nhiều việc phải làm để được đưa vào Advanced Emerging Markets Index. Tuy nhiên đây được coi là thông tin tích cực. Thứ trưởng Bộ Tài chính ông Huỳnh Quang Hải cũng đã phát biểu rằng trong năm 2019 Bộ Tài chính tiếp tục đẩy mạnh các biện pháp phát triển thị trường, gồm phê duyệt Luật Chứng khoán sửa đổi, tiếp tục tái cấu trúc thị trường, xây dựng sản phẩm chứng quyền và sản phẩm mới để thúc đẩy thị trường. Ở một thông tin khác, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã đề cập kế hoạch IPO VNPT vào cuối năm 2019 và Agribank (NHTM lớn thứ 2 xét về tài sản) vào cuối năm 2019 hoặc đầu năm 2020. Sẽ còn nhiều việc cần làm trước khi các đợt IPO trên diễn ra, nhưng quá trình cổ phần hóa và IPO một lần nữa được nhắc đến có vẻ đã ảnh hưởng tốt đến thị trường.

TIN NGÀNH

Ngành chứng khoán
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chỉ đạo các Bộ Tài chính và thành viên thị trường cần tiếp tục nâng cao tính minh bạch và thực hiện lộ trình theo đề án phát triển thị trường chứng khoán. Năm 2018, Việt Nam đã hoàn thành toàn diện vượt mức kế hoạch chỉ tiêu Đảng và nhân dân giao phó. Thị trường chứng khoán nói riêng tiếp tục phát triển. Huy động vốn của khối doanh nghiệp đạt 86.000 tỷ đồng đưa Việt Nam trở thành nước huy động vốn từ thị trường chứng khoán thành công nhất Đông Nam Á. Nguồn vốn từ thị trường đã giúp Chính phủ đã cơ cấu lại thị trường vốn, cân đối nguồn lực tài chính. Dù đạt được những thành công nhất định, chứng khoán vẫn còn một số điểm cần cải thiện như quy mô thị trường còn nhỏ, nhất là thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Tính minh bạch cần tiếp tục được củng cố, nhiều doanh nghiệp cổ phần hóa nhưng chậm lên sàn. Số lượng nhà đầu tư nhỏ lẻ chiếm đa số, tạo tâm lý đám đông, sức chống đỡ giữa các biến động lớn chưa cao. Thủ tướng đã chỉ đạo và đề cập 8 trọng tâm các Bộ ngành và cơ quan quản lý cần phải thực hiện để phát triển thị trường chứng khoán.Thứ nhất là tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý, trọng tâm là luật chứng khoán sửa đổi, đồng bộ với luật Doanh nghiệp và luật Đầu tư để trình Quốc hội năm 2019. Đồng thời, luật sẽ tăng cường thể chế bảo vệ nhà đầu tư thiểu số, nâng cao chất lượng thị trường. Thứ hai, tổ chức thực hiện đề án Phát triển thị trường Chứng khoán Việt Nam, xác định rõ mục tiêu lộ trình tiến hành. Nâng cao khả năng phối hợp thị trường tín dụng và thị trường vốn, phát triển các sản phẩm đa dạng hóa cho nhà đầu tư, tăng độ sâu tài chính của thị trường Trái phiếu Chính phủ. Thứ ba, tiếp tục tái cơ cấu lại thị trường, các thành viên thị trường, trong đó có việc thành lập sở GDCK Việt Nam. Thứ tư, Bộ tài chính phối hợp với Chính phủ tiếp tục cải thiện cơ chế chính sách thúc đẩy cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước gắn với niêm yết cổ phiếu. Thứ năm, các Bộ ngành, thành viên thị trường tiếp tục phối hợp hướng đến mục tiêu nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi. Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế, xây dựng chính sách, chia sẻ thông tin giám sát và mối liên hệ với các tổ chức quốc tế. Thứ bảy, Bộ Tài chính và UBCK triển khai xây dựng ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu vào ngành tài chính, chứng khoán đồng thời kết hợp nâng cao năng lực nhân sự toàn hệ thống. Cuối cùng, Thủ tướng chỉ đạo cần tiếp tục minh bạch hóa thị trường, tăng mức xử phạt với các hành vi thao túng, báo cáo giao dịch sai lệch. Đảm bảo phát triển thị trường thành kênh đầu tư an toàn cho nhà đầu tư và người dân.

TIN DOANH NGHIỆP

Ngân hàng BIDV – BID

BIDV đã công bố KQKD hợp nhất năm 2018 và Ngân hàng đã hoàn thành 101,9% kế hoạch LNTT được ĐHCĐTN thông qua, là 9.472 tỷ đồng (tăng trưởng 9,32%). Triển vọng năm 2019 khiêm tốn với LNTT tăng trưởng 12,3% đạt 10.642 tỷ đồng. Tăng trưởng cho vay và tăng trưởng tiền gửi: đều tăng trưởng mạnh. Cho vay khách hàng tăng trưởng 14,1% – đạt 988,73 nghìn tỷ đồng, với đóng góp chính là cho vay ngắn hạn (tăng trưởng 21,7%, tương đương 61,82% tổng dư nợ). Cho vay trung và dài hạn chỉ tăng 3,8% (tương đương 38,2% tổng dư nợ). BID duy trì tốc độ giải ngân cho vay ổn định trong cả năm 2018. Trên BCTC Q4 của Ngân hàng không có thông tin cụ thể về cơ cấu cho vay theo khách hàng và ngành nghề. Tiền gửi khách hàng cũng tăng tốt, là 15,1% – đạt 989,67 nghìn tỷ đồng. Theo kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn tăng mạnh 18,2% đạt 820,03 nghìn tỷ đồng (tương đương 82,9% tổng tiền gửi khách hàng). Trong khi đó, tiền gửi không kỳ hạn chỉ tăng 5,9% đạt 168,63 nghìn tỷ đồng (tương đương 17,1% tổng tiền gửi khách hàng). Phần lớn tăng trưởng tiền gửi khách hàng là từ tiền gửi bằng tiền đồng. Tuy nhiên, có sự hoán đổi giữa vay NHNN và chính phủ với phát hành giấy tờ có giá – Cụ thể, tổng giá trị giấy tờ có giá phát hành cho khách hàng của BID trong năm 2018 giảm mạnh 52,2% so với năm 2017 xuống 39,99 nghìn tỷ đồng (tương đương giảm 43,74 nghìn tỷ đồng). Tuy nhiên, tổng giá trị vay từ NHNN, Bộ Tài chính và Kho bạc lại tăng mạnh 35,8% so với năm 2017 (tương đương tăng 27,76 nghìn tỷ đồng). Và hai nguồn huy động này bù trừ cho nhau. Là một trong những ngân hàng TMCP có vốn nhà nước lớn nhất, BID thường có lợi thế về nguồn vốn nhà nước – BID có 70,43 nghìn tỷ đồng tiền gửi từ Kho bạc Nhà nước và 24,16 nghìn tỷ đồng tiền gửi từ Bộ Tài chính vào thời điểm cuối năm 2018 (tăng 46,1% so với năm 2017). Nguồn vốn này thường có lãi suất thấp hơn so với lãi suất liên ngân hàng và lãi suất tiền gửi khách hàng. Dĩ nhiên, nguồn vốn này cũng thường không ổn định và phụ thuộc nhiều vào kế hoạch phân bổ ngân sách cho các dự án công. Hệ số LDR thuần của BID vẫn rất cao, là 99,9% – so với mức 100,7% vào cuối năm 2017. Tuy nhiên, nếu sử dụng công thức: hệ số LDR điều chỉnh = (tổng cho vay khách hàng + trái phiếu doanh nghiệp)/(tổng tiền gửi khách hàng + giấy tờ có giá), thì hệ số LDR thực tế đã tăng từ 95% lên 99%. BID cũng nắm giữ khoảng 30 nghìn tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp. Lợi suất – Tỷ lệ NIM giảm nhẹ 0,07% xuống 2,92%. Tỷ lệ NIM giảm nhẹ 0,07% xuống 2,92% – do lợi suất gộp bình quân giảm 0,06% xuống 7,53% và chi phí huy động bình quân tăng 0,03% lên 4,70%. Về các tài sản sinh lãi – lợi suất gộp cho vay khách gần như không đổi, là 8,11% (giảm 0,03% so với năm 2017), lợi suất gộp cho vay liên ngân hàng giảm nhẹ 0,08% xuống 3,43% và lợi suất gộp đầu tư trái phiếu giảm 0,14% xuống 5,97%. Tỷ trọng cho vay khách hàng trong tổng tài sản sinh lãi tăng từ 75,4% lên 80,1% trong năm 2018, trong khi đó tỷ trọng danh mục trái phiếu giảm từ hơn 14,4% xuống 11,5% và tỷ trọng cho vay liên ngân hàng cũng giảm từ 10,3% xuống 8,4%. Về các nguồn huy động – chi phí huy động bình quân tăng nhẹ 0,06% lên 7,05%, do chi phí tiền gửi khách hàng tăng 0,18% lên 4,98% (với phần lớn gia tăng rơi vào Q4/2018, tăng 0,22% so với quý liền trước), chi phí vay liên ngân hàng giảm 0,59% và chi phí phát hành giấy tờ có giá tăng 0,06% lên 7,05%.Kết quả lợi nhuận – cả thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi tăng tốt Thu nhập lãi thuần tăng trưởng 12,9% đạt 34.955 tỷ đồng. Tổng thu nhập ngoài lãi cũng tăng tốt 18,3% đạt 9.534 tỷ đồng – với đóng góp chính là từ lãi thuần hoạt động dịch vụ (tăng trưởng 19,7% đạt 3.550 tỷ đồng, tương đương 37,2% tổng thu nhập ngoài lãi) và thu nhập từ thu hồi nợ xấu (tăng trưởng 16,6% đạt 3.822 tỷ đồng, tương đương 40,0% tổng thu nhập ngoài lãi). Các nguồn thu nhập khác cũng tăng tốt, gồm lãi thuần HĐKD ngoại hối (tăng trưởng 55,6% đạt 1.039 tỷ đồng), lãi thuần hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư và kinh doanh (tăng trưởng 8,2% đạt 879 tỷ đồng). Do đó, tổng thu nhập hoạt đông đạt 44.490 tỷ đồng (tăng trưởng 14,0%). Chi phí hoạt động được kiểm soát nghiêm ngặt, chỉ tăng 4,0% so với năm 2017 lên 16.124 tỷ đồng. Do đó, hệ số CIR là 36,2% (năm 2017 là 39,7%) – Tuy nhiên, tương tự như ở VCB và CTG, BID thường trích một phần lớn LNST cho quỹ khen thưởng và phúc lợi trong nhiều năm qua (lên tới 25% LNST, tương đương 3 tháng lương nhân viên theo quy định của Bộ Tài chính). Do đó, hệ số CIR thực tế cao hơn nhiều, là khoảng 40% trong năm 2018 (và 44% trong năm 2017).Trích lập dự phòng và chất lượng tài sản – Chi phí dự phòng ở mức cao kỷ lục tuy nhiên mức dự phòng vẫn thấp. Tỷ lệ nợ xấu sau xử lý của BID vào cuối năm 2018 là 1,69% – so với mức 1,61% vào cuối năm 2017. Như vậy, đã có 2.747 tỷ đồng nợ xấu hình thành mới trong năm 2018, chủ yếu là nợ Nhóm 4 và Nhóm 5. Tuy nhiên, đã có sự cải thiện đáng kể ở nợ Nhóm 2 và nợ nhóm này chỉ chiếm 4,09% tổng dư nợ so với tỷ trọng 5,10% vào cuối năm 2017 (giảm từ 6.498 tỷ đồng). BID đã trích lập dự phòng ở mức cao kỷ lục, là 18.893 tỷ đồng (tăng 27,3% so với năm 2017) – Tổng chi phí dự phòng tích lũy của BID từ năm 2013 hiện là 62,08 nghìn tỷ đồng (tương đương 18,3% tổng dư nợ năm 2012 và tương đương 9,98% dư nợ bình quân trong giai đoạn 2012-2018). Điều này cho thấy nỗ lực rất lớn của BID trong trích lập dự phòng, đặc biệt là từ năm 2017. Cơ cấu chi phí dự phòng năm 2018. • 999,28 tỷ đồng chi phí dự phòng chung cho các khoản cho vay khách hàng nhóm 1-4 (tăng 3,5%) • 16.513 tỷ đồng chi phí dự phòng cụ thể (tăng 84,82%) • 1.380 tỷ đồng dự phòng trái phiếu VAMC (giảm 72,1%). BID vẫn còn 17.600 tỷ đồng giá trị trái phiếu VAMC với chi phí dự phòng lũy kế đã trích lập đến cuối tháng 6/2018 là 8.000 tỷ đồng. Theo đó phần trái phiếu VAMC chưa được trích lập là 9.400 tỷ đồng (bằng 0,95% tổng dư nợ cho vay). Tỷ lệ chi phí dự phòng cụ thể lũy kế/chi phí dự phòng cụ thể tối đa theo lý thuyết tại thời điểm cuối năm 2018 là 44% – thấp hơn mức 53,6% tại thời điểm cuối năm 2017 và 48% tại thời điểm cuối năm 2016. Hệ số LLR cũng giảm từ 81,4% trong năm 2017 xuống còn 74,3% trong năm 2018.

Công ty Nhựa Bình Minh – BMP
Công ty công bố KQKD hợp nhất năm 2018 với doanh thu thuần đạt 3.919,6 tỷ đồng (tăng trưởng 2,5%) và LNTT đạt 530,5 tỷ đồng (giảm 9,0% so với năm 2017). Hỗ trợ tăng trưởng doanh thu chính là sản lượng tiêu thụ tăng nhẹ 0,5% và giá bán bình quân tăng 2,0% nhờ đóng góp tốt hơn từ ống nhựa kích thước lớn. Sản lượng tiêu thụ năm 2018 chỉ tăng 0,5% so với năm 2017 – Tại buổi gặp gỡ, công ty công bố sản lượng ống nhựa tiêu thụ đạt 94.533 tấn (tăng 0,5% so với năm 2017). BMP đang dần giành lại phần thị phần đã mất trước đó và chủ yếu là do một số đối thủ cạnh tranh lớn như HSG không còn áp dụng chiến lược giá bán thấp. Giá bán bình quân tăng nhẹ 2,0% so với năm 2017 lên 41,5 triệu đồng/ tấn – Công ty đã giữ nguyên tỷ lệ hoa hồng cho các đại lý kể từ tháng 3/2017 trong khi đó giá bán niêm yết của từng sản phẩm cũng ổn định trong vài năm qua. Giá bán bình quân tăng hoàn toàn là nhờ sự thay đổi của cơ cấu danh mục sản phẩm. BMP đã ký một số hợp đồng với các dự án BĐS, do đó đóng góp của dòng sản phẩm ống nhựa HDPE có giá bán cao hơn tăng so với ống nhựa PVC. Tuy nhiên, dự báo ống nhựa PVC vẫn sẽ là sản phẩm đóng góp doanh thu thuần chính, khoảng 87-90% và phần đóng góp 10-13% doanh thu thuần còn lại là từ HDPE. Tuy nhiên, mặc dù đóng góp doanh thu của HDPE với tỷ trọng lớn hơn giúp cải thiện giá bán bình quân, dòng sản phẩm này lại có có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn do BMP phải áp dụng mức chiết khấu hấp dẫn để giành được các hợp đồng.Lợi nhuận gộp giảm 5,5% so với năm 2017 và chỉ đạt 872 tỷ đồng – Theo đó tỷ suất lợi nhuận gộp giảm xuống chỉ là 22,2% so với mức 24,1% trong năm 2017, do giá nguyên vật liệu tăng. Cụ thể; • Giá hạt nhựa PVC, chiếm khoảng 90% chi phí nguyên liệu, tăng 2,65% trong năm 2018 so với năm 2017. • Giá hạt nhựa HDPE, thường chiếm 10% chi phí nguyên liệu, tăng mạnh 15,86% so với năm 2017. • Chi phí nguyên liệu thường chiếm 65%-70% giá vốn hàng bán. • Do đó, giá nguyên liệu tăng kéo chi phí sản xuất trên mỗi đơn vị tăng 6,3% so với năm 2017. Trong khi đó giá bán bình quân chỉ tăng khoảng 2,0% so với năm 2017. Từ đó, tỷ suất lợi nhuận giảm do giá nguyên liệu đầu vào tăng. • Hơn nữa, chi phí khấu hao tăng mạnh lên 172,4 tỷ đồng (tăng 74,4% so với năm 2017), chủ yếu liên quan đến công suất gia tăng tại nhà máy Long An với chi phí khấu hao được phân bổ trong cả năm 2018. Chi phí bán hàng & quản lý chỉ tăng 0,8% so với năm 2017 lên 262 tỷ đồng – Công ty công bố chi phí bán hàng là 165,9 tỷ đồng (tăng 22,3% so với năm 2017) do phát sinh thêm chi phí liên quan đến sự kiện hội nghị khách hàng tổ chức hai năm một lần. Tổng ngân sách cho sự kiện này là khoảng 35 tỷ đồng và chủ yếu được hạch toán trong 6 tháng cuối năm 2018. Tuy nhiên, chi phí quản lý chung giảm mạnh 22,7% so với năm 2017 xuống chỉ là 96,2 tỷ đồng, chủ yếu nhờ chi phí cho nguồn lực quản lý giảm 54,3%, chi phí dự phòng giảm 46,5% và chi phí gia công cũng giảm 44,7%. Chi phí quản lý chung được kiểm soát tốt đã giúp bù đắp hoàn toàn cho sự gia tăng của chi phí bán hàng. Nhờ vậy, tỷ lệ chi phí bán hàng & quản lý/doanh thu thuần giảm nhẹ so với năm 2017, từ 6,8% xuống 6,7%.Tiếp đó, lỗ tài chính thuần tăng lên 81,4 tỷ đồng từ 73,4 tỷ đồng trong năm 2017 do chi phí hoạt động tài chính tăng 7,8% – Doanh thu hoạt động tài chính giảm nhẹ 1,8% so với năm 2017 xuống 24 tỷ đồng trong khi đó chi phí tài chính tăng 7,8% so với năm 2017 lên 105,5 tỷ đồng. Chi phí lớn nhất trong các chi phí hoạt động tài chính là chiết khấu thanh toán, tăng lên 104,3 tỷ đồng (tăng 8,3% so với năm 2017). Cuối cùng, tỷ suất lợi nhuận gộp giảm mạnh cùng với lỗ tài chính tăng đã kéo giảm lợi nhuận năm 2018 – Công ty báo đạt LNTT là 530,5 tỷ đồng (giảm 9,0% so với năm 2017). LNST đạt 428,1 tỷ đồng (giảm 7,9% so với năm 2017), theo đó EPS 2018 là 4.706đ, tương đương P/E hiện tại là 9,8 lần. Riêng trong Q4, Công ty đã công bố KQKD gây thất vọng với LNTT giảm mạnh 28,3% so với cùng kỳ – do tỷ suất lợi nhuận gộp giảm mạnh. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận gộp giảm mạnh hơn kỳ vọng do tỷ lệ chiết khấu tăng cộng với chi phí khấu hao tăng mạnh. Theo đó, doanh thu thuần đạt 1.170 tỷ đồng (giảm 3% so với cùng kỳ) và LNTT đạt 110,3 tỷ đồng (giảm 28,3% so với cùng kỳ). Lợi nhuận gộp đạt 228,8 tỷ đồng (giảm 19,2% so với cùng kỳ) và tỷ suất lợi nhuận gộp giảm mạnh từ 23,5% Q4/2017 xuống còn 19,6%. Trái lại, chi phí bán hàng & quản lý được kiểm soát tốt, giảm 6,5% so với cùng kỳ xuống còn 100,3 tỷ đồng nhờ chi phí quản lý giảm 14,3% so với cùng kỳ mặc dù chi phí bán hàng tăng 10%. Chính sách cổ tức năm 2018 – ĐHCĐTN năm ngoái đã thông qua mức chi trả cổ tức ít nhất là 2.000đ/cp cho năm 2018; theo đó tỷ lệ cổ tức/giá đạt 4,34%. Công ty đã tạm ứng cổ tức 1.500đ vào ngày 28/12/2018. Phần còn lại 500đ/cp sẽ được chi trả sau ĐHCĐTN diễn ra vào tháng 4 năm nay. Cho năm 2019, Công ty đặt kế hoạch kinh doanh thận trọng với doanh thu đạt 4.075 tỷ đồng (tăng trưởng 4%) và LNTT đạt khoảng 540 tỷ đồng (tăng trưởng 2%) – Tại cuộc họp, Công ty đã công bố kế hoạch sản lượng tiêu thụ cho năm nay là 98.314 tấn (tăng 4%). BMP kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận sẽ giữ nguyên trong năm nay do Công ty cho rằng giá hạt nhựa sẽ ổn định trong năm 2019.

Công ty CP FPT
FPT công bố LNST sau lợi ích CĐTS 2018 đạt 2,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2017 trên cơ sở lợi nhuận cốt lõi và giảm 11% trên cơ sở báo cáo, trong đó các mảng kinh doanh trụ cột (Xuất khẩu Phần mềm, Viễn thông và Giáo dục) đều đạt tăng trưởng mạnh. Trong khi LNST sau lợi ích CĐTS 2018 thấp hơn 4% so với dự báo của chuyên gia, vì một số chi phí không thường xuyên cho mảng viễn thông và Xuất khẩu Phần mềm. Tại mức giá đóng cửa phiên hôm qua, FPT đang giao dịch tại mức PEG 3 năm hấp dẫn là 0,5, trong khi lợi suất cổ tức khá hấp dẫn ở mức 4,6%. Xuất khẩu phần mềm: Doanh thu tăng 35%, lợi nhuận trước thuế tăng 27% so với năm 2017 với tình hình các thị trường đều khả quan. Thị trường Nhật Bản (chiếm 56% doanh thu mảng Xuất khẩu Phần mềm) vẫn là ngôi sao sáng, ghi nhận tăng trưởng doanh thu 30% YoY trong năm 2018. Trong khi đó, doanh thu từ các thị trường khác, như Mỹ, EU và APAC, tăng mạnh lần lượt 55%, 23% và 37% YoY, nhờ có thêm các khách hàng mới trong khi các hợp đồng hiện hữu được ký mới với giá trị cao hơn. LNTT của mảng này năm 2018 thấp hơn 5% dự báo của chuyên gia do phân bổ chi phí bất thường liên quan đến việc thâu tóm Intellinet trong quý 3/2018. Dịch vụ Viễn thông: Doanh thu tăng 16%, lợi nhuận trước thuế tăng 26% nhờ số thuê bao băng thông rộng đạt tốc độ tăng trưởng 2 chữ số trong khi lỗ từ Pay TV giảm. Doanh thu mảng Băng thông rộng tăng mạnh 13% YoY trong năm 2018 nhờ thuê bao mới. Trong khi đó, doanh thu từ các mảng khác (thuê đường truyền, voice, trung tâm dữ liệu và PayTV) tăng mạnh 22% YoY, chủ yếu được dẫn dắt bởi mảng PayTV. Mức lỗ thu hẹp của PayTV nhờ vào lợi thế kinh tế về quy mô, cùng với dự phòng thấp hơn cho Quỹ Viễn thông Công ích Việt Nam (VTF) trong năm 2018 và 2017, củng cố cho mức cải thiện biên LNTT 1 điểm % cho mảng Dịch vụ Viễn thông. Dù vậy, LNTT mảng Viễn thông vẫn thấp hơn 8% so với dự phóng do dự phòng khoản phải thu và hàng tồn kho, vốn không phải là những chi phí thường xuyên. Lượng sinh viên đăng ký mới tăng mạnh, thúc đẩy mảng Giáo dục tăng trưởng ổn định. Trong năm 2018, Mảng Giáo dục đã ghi nhận tăng trưởng mạnh 55% của lượng sinh viên đăng ký mới, tương ứng với 19.380 sinh viên mới. Tổng số lượng sinh viên đạt 36.635 vào cuối năm 2018, tăng mạnh 48% YoY. Diễn biến này báo hiệu thêm một năm triển vọng cho mảng Giáo dục trong năm 2019. Mảng CNTT trong nước lỗ trong tháng 12/2018 do chi phí triển khai cao hơn dự kiến. LNTT của mảng này đã tăng mạnh 152% đạt 159 tỷ đồng trong năm 2018 so với mức cơ sở thấp trong năm 2017, vốn bị ảnh hưởng do khoản lỗ từ một dự án ngân hàng lớn và trì hoãn bàn giao một số dự án khác. Tuy nhiên, kết quả này tương ứng với khoản lỗ 49 tỷ đồng trong tháng 12/2018. Ban lãnh đạo cho biết điều này là do chi phí triển khai cao hơn dự kiến.


Link zalo HỎI – ĐÁP THỊ TRƯỜNG: https://zalo.me/g/zuewgn139
SĐT/ ZALO/ VIBER: 0902317927 – Anh Tuấn Đông Tà.

(Nguồn: do Công ty CP Biên An Toàn tổng hợp tin)