BẢN TIN THỊ TRƯỜNG NGÀY 12/02/2019

THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN QUỐC TẾ

Chỉ số DowJones giảm điểm nhẹ trong phiên giao dịch đầu tuần, giảm -53.22 điểm (-0.21%) về mốc 25,053 điểm một phần do không chắc chắn về một thỏa thuận thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc và liên quan đến việc chính phủ Mỹ lại đứng trước nguy cơ đóng cửa do việc cuộc đàm phán tại Quốc hội Mỹ về vấn đề ngân sách an ninh biên giới một lần nữa lại đổ vỡ. Thị trường các nước châu Âu như Đức có phiên giao dịch tăng nhẹ khi mà chỉ số tăng 107.8 điểm lên mức 11,014 điểm. Trong khi đó, ở Châu Á chỉ số NIKKEI 225 của Nhật giảm -418 điểm về mốc 20,333 điểm (tại phiên 08/02) và không giao dịch trong ngày 11/02 (ngày quốc khánh), chỉ số Shanghai tăng nhẹ 35.66 điểm (1.36%) lên mốc 2,653 điểm, chỉ số Hang seng tăng 197.5 điểm lên mốc 28.143 điểm.

TIN HÀNG HÓA & GIÁ DẦU

Nối tiếp đà giảm ngay từ đầu tuần – sau khi giảm 4% vào tuần trước, giá dầu hôm nay tiếp tục đi xuống do thị trường lo ngại tăng trưởng kinh tế toàn cầu chững lại, tạo áp lực lên nhu cầu mặt hàng năng lượng. Giá dầu giảm hôm nay với giá dầu WTI trên hợp đồng tương lai ở vào 52,3 USD/thùng, dầu Brent Oil là 61.57 USD/thùng vào cuối thời gian giao dịch trên thị trường Châu Á. Lo ngại kinh tế toàn cầu giảm tốc, yếu tố có thể đe dọa lực cầu năng lượng, sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đến thị trường dầu trong tuần. Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia tiêu thụ dầu nhiều nhất thế giới. Các nhà kinh tế lo ngại cuộc chiến thương mại hiện tại giữa hai nền kinh tế này sẽ kéo tụt tăng trưởng toàn cầu, ảnh hưởng nhu cầu năng lượng. OPEC và Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) trong tuần sẽ công bố báo cáo hàng tháng về cung cầu dầu. Số liệu về tồn kho dầu thô thương mại cùng hoạt động sản xuất của Mỹ cũng là thông tin đáng chú ý. Giá dầu thô ngày 8/2 tăng nhưng chốt tuần vẫn giảm gần 5% do tâm lý nhà đầu tư chủ yếu là lo ngại. “Dường như rủi ro vĩ mô vẫn phủ bóng thị trường dầu”, Harry Tchilinguirian, trưởng bộ phận chiến lược thị trường hàng hóa toàn cầu tại BNP Paribas, nói. Sau khi kết thúc năm 2018 trong tình trạng “rơi tự do”, giá dầu đã tăng gần 16% kể từ đầu năm, chủ yếu nhờ chính sách giảm nguồn cung của OPEC và việc Mỹ trừng phạt Venezuela.

TIN VĨ MÔ THẾ GIỚI

Mỹ và Trung Quốc hôm nay bắt đầu vòng đàm phán thương mại tiếp theo, quan chức hai bên gặp cấp thấp để chuẩn bị cho cuộc gặp giữa đại diện thương mại Robert Lighthizer và Phó thủ tướng Lưu Hạc vào cuối tuần. Phó đại diện thương mại Mỹ Jeffrey Gerrish cùng nhóm quan chức cấp thấp của Mỹ đã gặp phía Trung Quốc, dường như thảo luận để chuẩn bị cho đàm phán Mỹ – Trung cấp cao vào ngày 14 và 15/2, có sự tham gia của đại diện thương mại Robert Lighthizer và Phó thủ tướng Lưu Hạc. Vòng đàm phán diễn ra trong bối cảnh hạn chót đình chiến thương mại, ngày 1/3, ngày càng đến gần. Nếu đàm phán bất thành, Mỹ sẽ tăng thuế từ 10% lên 25% với 200 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc vào ngày kế tiếp. Hai bên đều lạc quan về các cuộc đàm phán trước đó ở Bắc Kinh và Washington nhưng hy vọng về một thỏa thuận thương mại Mỹ – Trung đang ngày càng mờ nhạt sau khi Tổng thống Donald Trump nói ông “không chắc” sẽ gặp Chủ tịch Tập Cận Bình trong tháng 2. Cuộc gặp Trump – Tập được coi là chìa khóa để chốt môt thỏa thuận. Cố vấn kinh tế Nhà Trắng Larry Kudlow cho biết hai bên còn cách một thỏa thuận “khá xa”. Mỹ đang thúc đẩy Trung Quốc có các cải cách mang tính cấu trúc để giải quyết các vấn đề liên quan tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ và mở cửa nền kinh tế. Giới phân tích hoài nghi về khả năng Mỹ và Trung Quốc đạt thỏa thuận trong tháng này. Sian Fenner, nhà kinh tế châu Á tại công ty tham vấn Oxford Economics, Anh, nhận định Mỹ có thể tiếp tục hoãn tăng thuế. Phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ hôm nay tại Bắc Kinh, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hoa Xuân Doanh cho biết Trung Quốc hy vọng đàm phán thương mại với Mỹ sẽ đạt kết quả tốt.Kinh tế Anh tăng trưởng chậm nhất trong 6 năm qua. Ngày 11/2, Văn phòng Thống kê quốc gia (ONS) của Anh công bố số liệu cho thấy nền kinh tế nước này trong năm 2018 tăng trưởng ở mức thấp nhất trong vòng 6 năm qua. Theo ONS, trong năm 2018, tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Anh đạt 1,4%, giảm so với mức 1,8% trong năm 2017 và là mức thấp nhất kể từ năm 2012, trong khi tăng trưởng GDP trong quý 4 năm ngoái chỉ đạt 0,2%. ONS cho biết tốc độ tăng GDP đã chậm lại rõ rệt trong 3 tháng cuối năm ngoái, trong đó riêng tháng 12 năm ngoái giảm 0,4%. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 9/2012, tăng trưởng trong các lĩnh vực xây dựng, sản xuất và dịch vụ giảm trong tháng cuối cùng của năm. Báo cáo của ONS được công bố trong bối cảnh tiến trình đưa nước Anh rời khỏi Liên minh châu Âu (EU), còn gọi là Brexit, vẫn chưa rõ ràng và tăng trưởng kinh tế toàn cầu yếu hơn. Chính phủ Anh hiện đang tìm cách có thêm thời gian để đảm bảo các nhượng bộ của EU đối với Brexit có thể vượt qua “cửa ải” Quốc hội và ngăn chặn nguy cơ rời khỏi khối trong hỗn loạn. Theo kế hoạch, Anh sẽ rời EU vào ngày 29/3 tới, song cho tới nay vẫn chưa có một thỏa thuận được cả EU và Quốc hội Anh chấp thuận. Tình hình này cho thấy nhiều khả năng Anh sẽ rời EU không thỏa thuận và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế lớn thứ năm thế giới này. Hồi tuần trước, ngân hàng trung ương Anh (BoE) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế của Anh trong năm nay từ mức 1,7% xuống 1,2%, do kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại và ảnh hưởng của Brexit. Thống đốc BoE Mark Carney cảnh báo nền kinh tế Anh “chưa được chuẩn bị” cho tình huống Brexit không thỏa thuận. Trong báo cáo công bố ngày 11/2, Viện nghiên cứu IWH hàng đầu của Đức cho biết một Brexit không thỏa thuận có thể sẽ khiến 600.000 người trên thế giới mất việc làm, trong đó Đức chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo IWH, trong trường hợp nhập khẩu của Anh từ các nước còn lại trong EU giảm 25% sau Brexit, khoảng 180.000 việc làm tại các công ty ở 27 nước EU xuất khẩu trực tiếp sang Anh có nguy cơ bị đe dọa. Trong khi đó, 433.000 việc làm ở các công ty tại EU và trên thế giới cũng có thể bị ảnh hưởng do sản phẩm của các công ty này được bán cho các công ty xuất khẩu trực tiếp sang Anh.

TIN VĨ MÔ TRONG NƯỚC

Báo cáo của Ngân hàng HSBC cho rằng những nguy cơ tiềm ẩn của bất ổn kinh tế vĩ mô làm chậm lại kinh tế toàn cầu có thể trở thành đòn bẩy giúp ASEAN đẩy nhanh tiến trình cải cách mạnh mẽ hơn nữa trong năm 2019. Theo ông Phạm Hồng Hải, Tổng Giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam, năm 2019 chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bất ổn khi các thị trường đang dự báo Fed sẽ tiếp tục chính sách thắt chặt, liệu UK có đạt được một thỏa thuận về Brexit hay không, các doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ bất ổn về các loại thuế thương mại, và giá dầu tiếp tục biến động. “Trong bối cảnh những bất ổn này, ASEAN tiếp tục duy trì là một trong các khu vực cởi mở và lạc quan nhất trên thế giới. Năm 2019 khu vực ASEAN có cơ hội tiếp tục phát huy thế mạnh này bằng việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách và tăng cường mở rộng tự do thương mại”, ông Hải nhận định. HSBC chỉ ra một số lĩnh vực cần tập trung trong năm 2019. Việt Nam đứng đầu thị trường tiềm năng, cần tận dụng đẩy mạnh thương mại nội khối. Các nền kinh tế ASEAN có thể cải thiện phần nào tình hình thương mại đi xuống nếu sự dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc, Mỹ và Hàn Quốc sang Đông Nam Á diễn ra. Việc tăng cường hỗ trợ các dòng chảy hàng hóa và dịch vụ trong nội khối ASEAN diễn ra thuận lợi sẽ khiến cho xu hướng dịch chuyển này diễn ra sâu rộng hơn. Việt Nam với lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất ngày càng tăng trở thành thị trường có thể hưởng lợi nhiều nhất từ sự dịch chuyển thương mại đến từ căng thẳng thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc.Theo báo cáo từ Khối Nghiên cứu Kinh tế Tập đoàn HSBC quý I/2019, giả sử một nền kinh tế khu vực châu Á nắm bắt được 1% lượng xuất khẩu của Trung Quốc vào Mỹ hay 1% lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Trung Quốc, GDP của thị trường đó sẽ tăng đáng kể. Việt Nam là quốc gia đứng đầu trong các thị trường với tiềm năng tăng trưởng tăng tới 1,2%. Đây là lợi thế mà Việt Nam có thể tận dụng để đẩy mạnh hơn nữa dòng chảy thương mại trong nội khối ASEAN.Theo HSBC đã có một số bước tiến quan trọng được triển khai. Việc triển khai cơ chế Tự chứng nhận xuất xứ trong khối ASEAN cho phép các nhà xuất khẩu đủ điều kiện được tự chứng nhận xuất xứ trên hóa đơn thương mại cho hàng xuất khẩu của họ. Cơ chế một cửa ASEAN (ASEAN Single Window) được triển khai tại Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Singapore vào đầu năm 2018 – cho phép số hóa các hồ sơ chứng từ thương mại trao đổi trong nội khối – đồng nghĩa với việc các dòng chảy hàng hóa giữa các thị trường sẽ giảm từ 5-10 ngày xuống còn một ngày. Nhưng theo HSBC, vẫn còn nhiều việc phải làm để đẩy nhanh hơn nữa dòng chảy hàng hóa và dịch vụ giữa các thị trường ASEAN, bao gồm việc triển khai cơ chế một cửa ASEAN đến tất cả các thị trường trong khối, chuẩn hóa chi phí và thời gian thực hiện các thủ tục hải quan giữa các nước Đông Nam Á và cho phép sự dịch chuyển thuận tiện hơn nữa của các chuyên gia giữa các thị trường trong khu vực.Thu hút hơn nữa đầu tư từ nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Đông Nam Á đã làm dịu hậu khủng hoảng tài chính toàn cầu. Nhưng HSBC cho rằng nguồn vốn cần được hướng nhiều hơn nữa vào các thị trường như Thái Lan, Indonesia hoặc Philippines nơi chuỗi cung ứng được kỳ vọng sẽ phát triển trong tương lai. Đòn bẩy giúp thu hút đầu tư vào ASEAN rộng rãi hơn nữa rất rõ ràng: chi phí sản xuất hợp lý, tính ổn định của các thể chế, cải thiện công nghệ, hàng rào thuế quan cho các sản phẩm đầu vào giảm, và kỹ năng lao động đang dần nâng cao. Đối với Việt Nam, với nền tảng vững chắc của một nền kinh tế ủng hộ tự do thương mại và tăng trưởng mạnh, Việt Nam tiếp tục duy trì là điểm đến đầu tư thu hút cho các doanh nghiệp quốc tế. Theo báo cáo từ Bộ Kế hoạch & Đầu tư, tổng lượng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2018 đạt 35,46 tỷ USD, với tổng vốn giải ngân tăng 9,1% đạt 19,1 tỷ USD. Theo đó, năm 2018 trở thành năm thứ sáu liên tiếp Việt Nam thu hút được lượng vốn đầu tư nước ngoài cao kỷ lục. Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhận định về chứng khoán Việt năm 2019: Cơ hội nhiều hơn rủi ro Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ dẫn lại câu chuyện có những phiên giảm điểm rất mạnh, nhưng không có sự hỗn loạn trên thị trường. Ông nhận định chứng khoán về mức khoảng 900 điểm như hiện tại là rất đẹp. Hệ số PE chỉ còn khoảng 16-17. “Với tương lai này, năm 2019 thị trường chứng khoán thế giới là rủi ro nhiều hơn cơ hội. Còn riêng Việt Nam là cơ hội nhiều hơn rủi ro”, ông nói. Phân tích nguyên nhân về sự thành công của thị trường chứng khoán, Phó thủ tướng cho rằng Việt Nam có nền tảng kinh tố vĩ mô tốt, các doanh nghiệp niêm yết lợi nhuận cao. Trong khi đó Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa và thoái vốn DNNN, đưa nhiều hàng tốt, hàng quan trọng lên thị trường. Đặc biệt 2019 sẽ đưa sản phẩm phái sinh vào hoạt động, là cổ phiếu cầm cố có bảo đảm. Năm 2019 cũng sẽ là năm tái cấu trúc sở giao dịch chứng khoán với mô hình một sở – 2 sàn. Chính phủ cũng sẽ tiếp tục sửa đổi Luật Chứng khoán để củng cố về mặt luật pháp. Phó Thủ tướng dự báo năm 2019 tuy có những phức tạp của chiến tranh thương mại Mỹ – Trung, Cục dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục tăng lãi suất. Tuy nhiên áp lực sẽ không lớn như năm vừa rồi. “Với những nhân tố tích cực thì thị trường sẽ phát triển bền vững hơn so với năm nay, chủ yếu do những yếu tố nội tại của chúng ta. Tuy nhiên chúng ta phải rất quan tâm theo dõi, ứng phó kịp thời với diễn biến thế giới”, ông nói.

TIN NGÀNH

Ngành ngân hàng
Đầu tháng 2/2019, NHNN thực hiện lấy ý kiến đóng góp đối với Dự thảo Thông tư quy định về thực hiện dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TCTD). Đây là một trong các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng đã ban hành 20/11/2017. Tổ chức tín dụng tham gia tái cơ cấu được “ưu ái” dự trữ bắt buộc và tái cấp vốn. Theo quy định tại Luật và hướng dẫn tại Thông tư như dự thảo đang lấy ý kiến đóng góp, điểm đáng lưu ý là các tổ chức tín dụng hỗ trợ tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt sẽ được giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Không phải lần đầu NHNN áp dụng hình thức “ưu ái” này. Thông tư 10/2015/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn quy định hai hình thức hỗ trợ nguồn vốn cho vay chính gồm: tái cấp vốn đối với tổ chức tín dụng cho vay và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tổ chức tín dụng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn từ 40% trở lên. Đối với hoạt động cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua hồi tháng 10/2017 cho phép TCTD hỗ trợ hưởng 2 ưu đãi, gồm vay tái cấp vốn với lãi suất ưu đãi đến mức 0% và giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi đã được phê duyệt. Cùng đó, TCTD hỗ trợ còn được hưởng 5 quyền lợi khác (không hạn chế về tỷ lệ mua, đầu tư trái phiếu Chính phủ; phát hành trái phiếu dài hạn cho Bảo hiểm tiền gửi; áp dụng hệ số rủi ro 0% với khoản cho vay, tiền gửi tại TCTD được kiểm soát đặc biệt…). Cũng phải nhắc lại rằng, cam kết của Thống đốc Lê Minh Hưng tại nghị trường Quốc hội là không sử dụng ngân sách nhà nước trong quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng. Đi kèm với các nghĩa vụ, quyền lợi cho TCTD hỗ trợ là điều dễ hiểu – sẽ thu hút sự tham gia hỗ trợ cho TCTD đang có vấn đề. Tại bản dự thảo đầu tiên lấy ý kiến đóng góp của Luật sửa đổi, cơ quan soạn thảo còn nêu cho TCTD hỗ trợ được vay tái cấp vốn và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc dựa trên nguyên tắc “đủ bù đắp thu nhập bị giảm và chi phí phát sinh trong quá trình hỗ trợ cơ cấu lại”. Các dự thảo sau đó đã điều chỉnh lại như Luật đã ban hành (giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo phương án phục hồi đã được phê duyệt). Tới dự thảo Thông tư hướng dẫn này, NHNN nêu rõ TCTD hỗ trợ được giảm đối với tất cả các loại tiền gửi. Thông tin về nợ xấu Tính đến 31/12/2018, theo số liệu thống kê dựa trên 21 ngân hàng đã công bố thông tin về nợ xấu, chỉ có 5/21 ngân hàng có nợ xấu giảm so với cùng kỳ năm trước gồm PGBank, Saigonbank (SGB), Sacombank (STB) và ABBank và Eximbank (EIB). Các ngân hàng còn lại đều tăng nợ xấu mặc dù lợi nhuận cũng tăng cao. Tính đến thời điểm 31/12/2018, chỉ có 2 ngân hàng là VPBank (VPB, 3.51%) và MSB (3.01%) có tỷ lệ nợ xấu trên 3%, chưa xét đến vấn đề tăng hay giảm tỷ lệ nợ xấu, thì các nhà băng còn lại đều kiểm soát được tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Sự bành trướng của FECredit không chỉ đóng góp vào lợi nhuận, mà còn góp phần nợ xấu cho VPBank, cho nên việc VPBank đứng đầu về tỷ lệ nợ xấu lẫn số tuyệt đối không có gì là bất ngờ. Tăng đến 25% nợ xấu so với đầu năm, nợ xấu của VPB chiếm 7,766 tỷ đồng trong tổng dư nợ cho vay. Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn tăng 33% và nợ nghi ngờ chỉ giảm 14% cùng với nợ có khả năng mất vốn tăng cao (74%), kéo theo tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay tăng lên 3.51% so với mức 3.39% hồi đầu năm. Về phần MSB, nợ xấu của ngân hàng trong năm 2018 tăng đến 82% so với hồi đầu năm. Trong đó, nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng 42% và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tăng đến 92% so với đầu năm. Kéo theo đó, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay khách hàng tăng lên 3.01% so với 2.23% hồi đầu năm. Mặc dù đã kéo được tỷ lệ nợ xấu về dưới 3% đồng thời nợ xấu giảm 5% so với đầu năm chỉ còn 653 tỷ đồng, nhưng PGBank vẫn là ngân hàng có tỷ lệ đứng thứ 3 toàn hệ thống, suýt soát là 2.96%. Dư nợ cho vay khách hàng tăng nhẹ 3% so với cùng kỳ năm trước, đồng thời nợ xấu cũng giảm nhẹ 5% chỉ còn 653 tỷ đồng. Trong khi nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) tăng 38% và nợ nghi ngờ (nhóm 4) tăng 33%; thì nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) giảm 21%. Sacombank có lẽ là “điểm sáng” nhất trong bức tranh nợ xấu ngân hàng năm nay. Khi mới đầu năm, STB dẫn đầu với tỷ lệ nợ xấu ngất ngưởng 4.16% thì giờ đây, nhà băng này đã kéo được tỷ lệ nợ xấu về dưới 3% và đáng mừng là ở mức chỉ còn 2.11%. Chưa dừng lại ở đó, STB còn dẫn đầu trong nhóm giảm nợ xấu khi giảm gần một nửa nợ xấu so với đầu năm, chỉ còn 5,427 tỷ đồng nợ xấu. Trong đó, nợ nhóm 3 giảm 87%, nợ nhóm 4 giảm 50%, nhóm 5 giảm 41% Mới đây, phát biểu tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng 2019, ông Dương Công Minh – Chủ tịch HĐQT Sacombank cho biết, trong năm 2018, quá trình xử lý nợ xấu sau sáp nhập gặp khó khăn do khung pháp lý chưa hoàn thiện. Thời gian qua, Sacombank tập trung thanh lý, bán tài sản theo quy định, ưu tiên thu hồi nợ gốc, về lãi thì tiếp tục theo dõi để xử lý. Có 8/21 ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu giảm so với đầu năm, tuy nhiên thực chất chỉ có 5/21 ngân hàng có nợ xấu giảm so với đầu năm là STB (-48%), SGB (-28%), ABBank (-26%) và PGBank (-5%). Các nhà băng khác mặc dù tỷ lệ nợ xấu giảm, nhưng nợ xấu lại tăng, là do tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay tăng cao hơn nợ xấu. Mặc dù vậy, tính đến ngày 31/12/2018, tổng nợ xấu của 21 ngân hàng thống kê được đạt 34,809 tỷ đồng, giảm nhẹ 4% so với đầu năm. Cơ cấu nợ cũng dịch chuyển vào nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3) và nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5). Các ngân hàng gốc “Nhà nước” vẫn được kiểm soát tốt dưới 3%. Như trường hợp của Vietcombank (VCB) đã đưa được tỷ lệ nợ xấu về dưới mức 1%, chỉ còn 0.98% so với mức 1.14% hồi đầu năm.Trong khi đó, VietinBank (CTG, 1.56%) và BIDV (BID, 1.69%) tăng tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ so với đầu năm, nhưng vẫn được kiểm soát tốt. Riêng trường hợp của Agribank, nợ xấu theo Thông tư 02 là 1.51%, thấp hơn so với năm 2017. Thu hồi nợ sau xử lý 11,936 tỷ đồng, đạt 104% mục tiêu do HĐTV đề ra. Trích lập dự phòng rủi ro đạt 25,590 tỷ đồng. Theo thông tin từ Ngân hàng công bố, tổng nguồn dự phòng xử lý rủi ro còn lại gần 20,000 tỷ đồng, đủ khả năng mua trước hạn toàn bộ nợ đã bán cho VAMC và xử lý kịp thời các khoản nợ xấu phát sinh nếu có trong năm 2019. Trong năm 2018, nhiều Thông tư, Nghị định của Ngân hàng Nhà nước được đề ra để xử lý nợ xấu, mặc dù còn một số vướng mắc, nhưng không thể phủ nhận kết quả mà hành lang pháp lý này mang lại.Theo Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), trong năm 2018, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống đã giảm mạnh. Ước tính đến cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 149.22 ngàn tỷ đồng nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống tổ chức tín dụng là 1.89%, giảm so với mức 2.46% cuối năm 2016 và mức 1.99% cuối năm 2017. Và mức 1.89% này cũng là mức thấp nhất ghi nhận kể từ năm 2012 đến nay.Theo thông tin từ VAMC, trong năm 2018, công ty đã triển khai hoạt động mua và xử lý nợ xấu đã mua của các tổ chức tín dụng với hoạt động mua nợ theo giá trị thị trường đạt 2,819 tỷ đồng giá mua nợ; mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt đạt 29,812 tỷ đồng giá mua nợ; xử lý các khoản nợ xấu đã mua đạt 78,000 tỷ đồng dư nợ gốc (đạt 226% kế hoạch) với giá trị thu hồi nợ đạt 37,250 tỷ đồng. Sau khi Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội có hiệu lực, kết quả thu hồi nợ của VAMC trong năm 2017 và 2018 đạt 68,103 tỷ đồng, bằng gần một nửa tổng giá trị thu hồi nợ lũy kế từ 2013 đến nay. VAMC đặt mục tiêu đến năm 2020 về cơ bản xử lý xong nợ xấu các tổ chức tín dụng đã bán cho VAMC.

Ngành thủy sản
Theo Hiệp hội Thủy sản Mỹ, dự báo nguồn cung cá tuyết toàn cầu năm 2019 sẽ giảm xuống còn 1,5 triệu tấn, tương đương giảm 90.000 tấn so với năm 2018, tạo thêm cơ hội lớn cho cá tra Việt Nam xuất khẩu vào thị trường này. Lý giải về vấn đề trên, phía Hiệp hội Thủy sản Mỹ cho rằng, do có khối nước ấm tồn tại ở những nơi nuôi cá tuyết trong những năm gần đây nên loài này không thể sinh sản và có dấu hiệu giảm mạnh. Điều này làm cho nguồn cung cá tuyết của Mỹ sẽ giảm mạnh tại vịnh Alaska. Ngoài ra, sản lượng cá tuyết của Canada tại khu vực biển Đại Tây Dương cũng chưa có dấu hiệu phục hồi. Sự hạn chế nguồn cung cá tuyết dẫn đến hệ quả là các doanh nghiệp không đủ thịt cá tuyết phile cung ứng cho thị trường Mỹ và châu Âu năm 2019. Theo nhận định của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam, sản lượng cá tuyết sụt giảm là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra nói riêng và ngành cá tra nói chung. Trong năm 2018, ngành chế biến xuất khẩu cá tra Việt Nam phát triển vượt bậc và đi vào ổn định. Các doanh nghiệp đầu ngành như Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn (Đồng Tháp), Công ty trách nhiệm hữu hạn thủy sản Biển Đông (Cần Thơ)… góp phần đưa đến thắng lợi lớn cho ngành cá tra trong năm 2018. Bà Nguyễn Ngô Vi Tâm, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Vĩnh Hoàn chia sẻ, năm 2018, ngành cá tra đạt kim ngạch xuất khẩu là 2,26 tỷ USD, tăng hơn 26% so với năm 2017, riêng Vĩnh Hoàn đạt 378 triệu USD, tăng 26% so với năm 2017. Ông Trương Đình Hòe, Tổng Thư ký Hiệp hội chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhận định, giá cá tra khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giữ ổn định, từ 31.000-33.000 đồng/kg. Năm 2019, ngành cá tra được dự báo sẽ tiếp tục đà tăng trưởng; trong đó, diện tích sản xuất cá tra tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long hơn 3.800 ha, sản lượng trong nước ước 3 triệu tấn, tăng 4,6% so với năm 2018. Sự tăng trưởng nguồn cung này sẽ là cơ hội lớn để đẩy mạnh xuất khẩu vào thị trường Mỹ và châu Âu thay cho con cá tuyết đang thiếu hụt tại đây. Với đà tăng trưởng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đặt mục tiêu cho các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cá tra trong năm 2019 là đạt kim ngạch 2,3 tỷ USD.

TIN DOANH NGHIỆP

Tập đoàn Masan (MSN)
MSN vừa công bố KQKD chưa kiểm toán cho năm 2018 với doanh thu tăng trưởng 1,5% đạt 38.187 tỷ đồng và LNST của cổ đông công ty mẹ tăng trưởng 4.916,5 tỷ đồng. Nếu không bao gồm khoản lợi nhuận không thường xuyên thì LNST của cổ đông công ty mẹ tăng trưởng 57,1% đạt 3.478 tỷ đồng. Với kết quả này, Công ty đã hoàn thành lần lượt 84,9% và 102,3% mục tiêu thận trọng của doanh thu và LNST cả năm. Xét riêng trong Q4, doanh thu tăng trưởng tốt đạt 11.558 tỷ đồng (tăng trưởng 13,7% so với cùng kỳ) – chủ yếu nhờ tăng trưởng của Masan Consumer Holdings (MCH) đat 5.439 tỷ đồng (tăng 18.4%), và tăng trưởng của Masan Resources (MSR) đạt 2.177 tỷ đồng (tăng 47,7%). Đồng thời, Masan Nutri Science cũng đạt kết quả tốt với mức giảm chỉ ở 3,3% so với cùng kì và tăng trưởng 17,7% so với quý trước, đạt 3.942 tỷ đồng, cho thấy một năm 2019 đầy hứa hẹn. LNST Q4 của cổ đông công ty mẹ lại giảm 39,8% còn 1.138 tỷ đồng – vì trong quý 4 năm 2017 MSN đã ghi nhận khoản lợi nhuận không thường xuyên từ bán trái phiếu chuyển đổi Techcombank, trong khi vào Q4 2018 thì Công ty không có được khoản thu như vậy. Nếu không bao gồm khoản lợi nhuận không thường xuyên thì LNST Q4 mảng kinh doanh chính của cổ đông công ty mẹ tăng 17,5%. Doanh thu thuần cả năm tăng 1,5% – do doanh thu của Masan Nutri Science giảm, trong khi doanh thu của cả Masan Consumer Holdings (MCH) và Masan Resources (MSR) tăng mạnh. MCH đạt doanh thu 17.346 tỷ đồng (tăng 28,2% so với cùng kỳ), chủ yếu nhờ tăng trưởng của hầu hết các sản phẩm chính của công ty, ngoại trừ sản phẩm thịt chế biến. Gia vị và đồ uống không cồn có mức tăng trưởng hơn 30%, tiếp theo là thực phẩm tiện lợi ở mức 29,3%, bia ở mức 23,3% và cà phê là 11,5%. Doanh thu từ sản phẩm thịt chế biến giảm 4,8%. MNS công bố doanh thu thuần giảm 25,2% xuống còn 13.977 tỷ đồng do cả sản lượng và giá đều giảm sau đợt giảm của đàn lợn năm ngoái. MNS đã ra mắt sản phẩm thịt tươi của họ, với tên gọi “MEATDeli”, vào cuối tháng 12 năm 2018, do đó các sản phẩm mới này không có ảnh hưởng gì đến doanh thu và lợi nhuận của MNS trong năm 2018. Sự ra mắt thành công của “MEATDeli” có thế giúp MNS chuyển mình sang ngành hàng tiêu dùng nhanh, và giúp thúc đẩy tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận dài hạn mà không bị ảnh hưởng bởi giá lợn. Doanh thu thuần của MSR tăng 27% đạt 6.865 tỷ đồng nhờ giá bình quân tăng đối với hầu hết các sản phẩm của họ và hiệu quả hoạt động cao hơn. Lợi nhuận gộp tăng nhẹ 2,1% so với cùng kỳ lên 11.881,4 tỷ đồng, giúp cải thiện tỷ suất lợi nhuận gộp từ 30,9% năm 2017 lên 31,1% năm 2018, với sự phân bổ như sau: Tỷ suất lợi nhuận gộp của MCH gần như không thay đổi, ở mức 43,7% (2017 là 43,6%). Tỷ suất lợi nhuận gộp của MNS giảm từ 21,4% xuống 15% do sự sụt giảm nghiêm trọng của thị trường thức ăn cho lợn trong năm 2017 và 2018. Tỷ suất lợi nhuận gộp của MSR giảm từ 31,3% xuống 31,5%. Chi phí quản lý và bán hàng giảm mạnh 12,1% – đạt 6.329,6 tỷ đồng, giảm 12,1%, chủ yếu do chi phí quản lý và bán hàng của MNS giảm mạnh 43,3%, và MCH giảm ít hơn ở mức 11,1%. Do đó, tổng tỷ trọng chi phí quản lý & bán hàng/ doanh thu đã giảm từ 19,1% trong năm 2017 xuống còn 16,6% trong năm 2018. Lỗ tài chính thuần giảm 48,1% đạt 2.291 tỷ đồng – nhờ khoản thu nhập không thường xuyên liên quan đến việc xử lý khoản lãi vốn chủ sở hữu của công ty tại TCB là 1.472 tỷ đồng. Khoản lợi nhuận này chỉ có ý nghĩa về mặt kế toán mà không đem lại dòng tiền thực sự cho công ty.Lợi nhuận thuần từ HĐKD tăng 57,1% – đạt 3.478 tỷ đồng, theo đó tỷ suất LNST là 9,1% (năm 2017 là 5,9%). Tổng nợ giảm đáng kể – Tổng nợ giảm mạnh 36,8% xuống còn 21.995,4 tỷ đồng từ 34.796,3 tỷ đồng vào đầu năm 2018. Trong quý 4 MSN đã trả hơn 12.500 tỷ đồng nợ, chủ yếu là từ tiền bán cổ phiếu quỹ. Điều này sẽ giúp MSN tiết kiệm khoảng 1.000 tỷ đồng chi phí lãi vay và mang lại tỷ suất lợi nhuận ở mức hai số trong năm 2019. Cho năm 2019, các chuyên gia dự báo doanh thu thuần đạt 44.577 tỷ đồng, tăng trưởng 13,9% và LNST của cổ đông công ty mẹ tăng trưởng 8,9% đạt 5.292 tỷ đồng. Nếu không bao gồm khoản lãi không thường xuyên trong năm 2018, thì lợi nhuận thuần từ HĐKD trong năm 2019 dự kiến sẽ tăng trưởng 52,1%.

Tổng Công ty Hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines (HVN)
Tổng Công ty Hàng không Việt Nam – Vietnam Airlines (HVN) vừa công bố kết quả kinh doanh hợp nhất năm 2018 với doanh thu thuần đạt 96.800 tỷ đồng, tăng gần 17% so với năm trước. Lợi nhuận trước thuế đạt 3.240 tỷ đồng, vượt 34% so với kế hoạch năm là 2.421 tỷ đồng. Kết quả này cũng cao hơn hẳn so với con số ước tính 2.800 tỷ đồng công bố hồi đầu năm. So với năm 2017, lãi trước thuế của Vietnam Airlines tăng 3% tuy nhiên LNST thuộc về cổ đông công ty mẹ lại giảm 4% xuống 2.282 tỷ đồng. Biến động của tỷ giá đã tăng động khá lớn đến kết quả kinh doanh 2018 của Vietnam Airlines: Lỗ chênh lệch tỷ giá tăng thêm 1.030 tỷ lên 1.476 tỷ đồng trong khi lãi chênh lệch tỷ giá chỉ tăng 70 tỷ lên 654 tỷ đồng. Tại thời điểm cuối năm 2018, Vietnam Airlines đang vay nợ hơn 38.000 tỷ đồng, giảm 9.000 tỷ so với một năm trước. Trong năm 2018, Vietnam Airlines ghi nhận khoản lãi 577 tỷ đồng từ hoạt động bán cho thuê lại máy bay, giảm 25% so với năm trước. Mới đây Vietnam Airlines đã nộp hồ sơ chuyển niêm yết từ Upcom sang HoSE. Từ đầu năm 2019 đến nay, cổ phiếu HVN đã có đợt phục hồi mạnh tăng từ 32.000 lên 39.000 đồng sau đợt sụt giảm mạnh hồi tháng 10-11/2018.

CTCP Cơ Điện Lạnh (REE)
CTCP Cơ Điện Lạnh (REE) vừa công bố Nghị quyết liên quan đến việc tổ chức cuộc họp ĐHĐCĐ thường niên và trả cổ tức tạm ứng cho năm tài khóa 2018. Cụ thể, ĐHCĐ thường niên sẽ được tổ chức vào sáng ngày 29/03/2019. Cùng với đó, REE cũng dự kiến tạm ứng cổ tức tiền mặt cho năm 2018 với tỷ lệ 18% vào ngày 05/04/2019. Ước tính, Công ty sẽ chi ra xấp xỉ 558 tỷ đồng trả cổ tức trong đợt này, nguồn chi trả lấy từ nguồn lợi nhuận chưa phân phối của doanh nghiệp. Tính đến thời điểm 18/01/2019, quỹ ngoại Platinum Victory Pte Ltd đang là cổ đông lớn nhất tại REE, với gần 25% tỷ lệ sở hữu; như vậy, Platinum dự kiến sẽ nhận được xấp xỉ 140 tỷ đồng cổ tức từ ông lớn ngành tiện ích này. Ngày đăng ký cuối cùng để tham dự ĐHCĐ thường niên và nhận cổ tức tạm ứng năm 2018 là ngày 27/02/2019. Năm vừa qua, REE báo lãi ròng lớn nhất từ trước đến nay, tương ứng 1,784 tỷ đồng, tăng trưởng 30% so với năm 2017. Qua đó, Công ty vượt 37% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2018.

Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PLX)
Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PLX) vừa công bố thông tin cho biết công ty không bán cổ phiếu nào trong số 12 triệu cổ phiếu quỹ đăng kí bán. Nguyên nhân do Petrolimex đưa ra là điều kiện thị trường chưa phù hợp. Trước đó, Petrolimex đăng kí bán 12 triệu cổ phần phổ thông trong thời gian từ 7/1 đến 1/2, phương thức giao dịch khớp lệnh hoặc thỏa thuận. Giá đặt bán trong mỗi phiên lớn hơn hoặc bằng Giá tham chiếu – (50% Biên độ dao động giá cổ phiếu). Mục đích bán cổ phiếu là để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh và đầu tư cơ sở vật chất. Số lượng cổ phiếu quỹ mà Petrolimex nắm giữ không đổi ở mức hơn 135 triệu đơn vị. Qua trao đổi vào giữa tháng 1 vừa qua, ông Phạm Văn Thanh – Chủ tịch HĐQT, Petrolimex cho biết: “Petrolimex được phê duyệt cho phép bán tối đa 60 triệu cổ phiếu quỹ nhưng do điều kiện thị trường chứng khoán gần đây không thực sự thuận lợi, chưa đáp ứng được mức giá chúng tôi kỳ vọng nên dự kiến đợt này, Petrolimex sẽ chỉ bán ra 12 triệu cổ phiếu (khoảng 1% vốn điều lệ). Nếu thị trường tiếp tục diễn biến không tốt, chúng tôi sẽ xem xét lại và có kế hoạch triển khai khác phù hợp hơn để thực hiện đúng phương án Bộ Công Thương đã duyệt.” Quí IV vừa qua, Petrolimex đạt doanh thu thuần 49.090 tỉ đồng, tăng trưởng 19% so với cùng kì 2017, báo lãi sau thuế 926 tỉ đồng, giảm 8%. Lũy kế cả năm 2018, Tập đoàn đạt 191.933 tỉ đồng doanh thu và 4.113 tỉ đồng lợi nhuận sau thuế, tăng trưởng lần lượt 25% và 5% so với năm 2017. Nợ phải trả cuối năm 2018 là 33.189 tỉ đồng, gấp 1,43 lần vốn chủ sở hữu. Trong đó giá trị nợ vay ngắn và dài hạn là 14.695 tỉ đồng.


Link zalo HỎI – ĐÁP THỊ TRƯỜNG: https://zalo.me/g/zuewgn139
SĐT/ ZALO/ VIBER: 0902317927 – Anh Tuấn Đông Tà.

(Nguồn: do Công ty CP Biên An Toàn tổng hợp tin)